Đồng USD giảm giá giúp doanh nghiệp bớt áp lực thanh toán hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, lợi nhuận của từng hợp đồng còn phụ thuộc vào thời điểm thu, chi ngoại tệ. Khoảng cách giữa lúc chốt giá bán và lúc trả tiền có thể khiến phương án kinh doanh thay đổi.
Tỷ giá thuận lợi chưa bảo đảm lợi nhuận từng đơn hàng
Giá USD bán ra tại Vietcombank ngày 20/10 ở mức 26.080 đồng, thấp hơn 275 đồng so với đầu năm. Diễn biến này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán. Tuy nhiên, ông Huỳnh Duy Sang, Giám đốc Khối Thị trường Tài chính ACB, lưu ý biến động ngắn hạn vẫn có thể ảnh hưởng đáng kể đến doanh nghiệp nếu rơi đúng thời điểm trả tiền hoặc nhận doanh thu.
Vấn đề cần nhìn nhận là tỷ giá được ghi nhận trên thị trường hôm nay và tỷ giá thực tế doanh nghiệp sử dụng để hoàn tất một thương vụ có thể cách nhau nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Trong khoảng thời gian đó, giá bán đã được chốt với khách hàng, còn chi phí mua ngoại tệ vẫn chưa xác định.
Một phép tính giả định cho thấy mức độ nhạy cảm của khoản thanh toán. Với hợp đồng nhập khẩu trị giá 1 triệu USD, mỗi lần tỷ giá tăng 100 đồng/USD, doanh nghiệp phải chi thêm 100 triệu đồng. Nếu tăng 300 đồng/USD, khoản tiền bổ sung lên tới 300 triệu đồng, chưa tính lãi vay và các chi phí khác.
Đối với đơn hàng có biên lợi nhuận thấp, số tiền này có thể làm thay đổi đáng kể kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp vẫn bán đủ hàng, thu đủ doanh số dự kiến nhưng lợi nhuận cuối cùng lại hụt vì phần chi phí ngoại tệ phát sinh.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần tính đến giá trị khoản thu khi quy đổi sang đồng Việt Nam. Chẳng hạn, với khoản thu 1 triệu USD, tỷ giá quy đổi giảm 200 đồng/USD sẽ khiến doanh thu bằng tiền đồng thấp hơn 200 triệu đồng so với phương án ban đầu.
Dù vậy, không thể chỉ nhìn chiều xuất khẩu hay nhập khẩu để kết luận doanh nghiệp được lợi hay chịu thiệt. Một đơn vị xuất khẩu đồng thời nhập nguyên liệu bằng USD có thể sử dụng nguồn thu để thanh toán một phần nghĩa vụ ngoại tệ. Mức độ ảnh hưởng khi đó phụ thuộc vào phần chênh lệch giữa các khoản thu, chi và thời điểm chúng phát sinh.
Bởi vậy, điều doanh nghiệp cần theo dõi sát là lượng ngoại tệ còn thiếu, ngày phải thanh toán và khả năng chịu đựng của từng đơn hàng nếu tỷ giá diễn biến bất lợi.
Đồng USD giảm giá giúp doanh nghiệp bớt áp lực thanh toán hàng nhập khẩu.
Tính phương án ngoại tệ ngay từ khi chốt hợp đồng
Với doanh nghiệp, một đơn hàng chỉ thực sự có phương án tài chính đầy đủ khi xác định được cả doanh thu, chi phí và lịch thanh toán. Nếu báo giá cho khách hàng dựa trên tỷ giá hiện tại nhưng vài tháng sau mới mua ngoại tệ, doanh nghiệp đang để một phần giá vốn phụ thuộc vào biến động thị trường.
Việc lập bảng dòng tiền theo từng đồng tiền và từng kỳ hạn sẽ giúp nhận diện khoảng trống này. Khoản phải trả đã chắc chắn cần được phân biệt với nhu cầu nhập hàng còn dự kiến; nguồn thu đã có lịch thanh toán cần được tách khỏi doanh thu đang chờ đàm phán. Mức độ chắc chắn khác nhau đòi hỏi cách xử lý khác nhau.
TS Nguyễn Trí Hiếu khuyến nghị doanh nghiệp cân nhắc hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn để xác định trước tỷ giá cho nhu cầu thanh toán tương lai. Ông đồng thời lưu ý cần làm rõ điều kiện, chi phí và sự phù hợp với giao dịch thực tế.
Điểm cần tính kỹ là doanh nghiệp có thể chấp nhận chi phí ngoại tệ ở mức nào để đơn hàng vẫn đạt yêu cầu lợi nhuận. Khi đã xác định được giới hạn đó, việc trao đổi với ngân hàng sẽ có cơ sở cụ thể hơn, gắn với số tiền và thời hạn phải trả.
Doanh nghiệp cũng cần đặt tình huống khách hàng thanh toán chậm, lịch giao hàng thay đổi hoặc lượng hàng thực nhận thấp hơn dự kiến. Một phương án chỉ phù hợp khi mọi việc diễn ra đúng kế hoạch có thể trở nên khó xử lý nếu dòng tiền bị lệch.
Trong khâu thương lượng hợp đồng, điều khoản đặt cọc, tiến độ trả tiền và thời hạn hiệu lực của báo giá cũng cần được xem xét cùng bài toán tỷ giá. Kỳ hạn thu tiền càng kéo dài, doanh nghiệp càng cần đánh giá kỹ khả năng phát sinh chênh lệch so với thời điểm xác lập giá bán.
Tỷ giá hạ nhiệt là điều kiện thuận lợi để rà soát lại kế hoạch tài chính. Với doanh nghiệp, bảo vệ lợi nhuận bắt đầu từ việc biết rõ mỗi hợp đồng còn phải mua bao nhiêu ngoại tệ, mua vào thời điểm nào và có thể chịu thêm bao nhiêu chi phí. Khi những con số này được xác định, quyết định kinh doanh mới bớt phụ thuộc vào kỳ vọng thị trường tiếp tục thuận chiều.
Thanh Cao