Mỗi năm, ngành ô tô tiêu tốn gần 10 tỷ USD cho việc nhập khẩu linh kiện; tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu còn yếu, manh nha. Điều này dẫn tới mất cân bằng cán cân thương mại, thiếu hụt giá trị gia tăng trong nước, không tạo được chuỗi cung ứng nội địa và nhất là không tích luỹ được năng lực sản xuất công nghệ cao, ngoại tệ bị chảy ra nước ngoài.
Tỉ lệ nội địa hoá ngành ô tô còn thấp
Tại Tọa đàm "Nội địa hóa ngành ô tô với nền kinh tế độc lập, tự chủ" do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức, GS.TS. Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng giáo sư Nhà nước cho biết, có thể thấy trên thị trường quốc tế, lịch sử các cuộc cạnh tranh, chiến tranh thương mại giữa các quốc gia thường bắt đầu căng thẳng chính từ ngành công nghiệp ô tô và kéo dài cho đến ngày nay. Ngay cả với các quốc gia phát triển, ngành công nghiệp ô tô vẫn là một lĩnh vực có cuộc chiến cạnh tranh rất gay gắt.
Lý do của điều này có lẽ xuất phát từ việc sản phẩm ô tô là một sản phẩm rất gần gũi với cuộc sống và tiêu dùng của mọi người dân. Mọi người đều cần đến những sản phẩm tiêu dùng này, chúng dần trở thành sản phẩm thiết yếu và nhu cầu ngày càng tăng lên chứ không hề giảm đi. Đó là một xu thế phát triển tất yếu.
Yếu tố thứ hai đến là mối liên hệ và sự lan tỏa giữa ngành công nghiệp ô tô với các ngành kinh tế khác. Khi ngành này phát triển, nó tác động và thúc đẩy rất nhiều ngành khác cùng phát triển. Điều này tạo ra một hệ sinh thái, không chỉ về công ăn việc làm mà còn thúc đẩy phát triển sản phẩm và công nghệ. Chính vì những yếu tố đó, các quốc gia đều mong muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô và phải thỏa mãn những tiêu chuẩn riêng của mình để tạo ra không chỉ thương hiệu riêng mà còn là sản phẩm đặc trưng.
Do đó, chủ trương của Việt Nam cũng là phát triển ngành công nghiệp ô tô theo hướng nội địa hóa, đây là một xu thế tất yếu mà thế giới đang phát triển và theo đuổi.
Nhu cầu ô tô tại Việt Nam hiện rất lớn, khi dân số đã vượt 100 triệu người, tầng lớp trung lưu đang gia tăng nhanh. So sánh với Thái Lan với dân số 70 triệu người nhưng tiêu thụ 1 triệu xe/năm và sản xuất tới 2 triệu xe, có thể thấy tiềm năng thị trường Việt Nam còn rộng mở.
Theo TS. Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương - Bộ Công Thương cho rằng, sản phẩm ô tô đầu tiên tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và mọi người dân. Năm 2024, tổng sản phẩm ô tô tiêu thụ tại thị trường Việt Nam đã đạt 580.000 chiếc, bao gồm cả nhập khẩu và sản xuất lắp ráp trong nước. Dự báo con số 900.000 đến 1 triệu ô tô vào năm 2030-2035 là hoàn toàn khả thi, cho thấy một thị trường rất tiềm năng.
Sáng 18/9, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức Tọa đàm "Nội địa hóa ngành ô tô với nền kinh tế độc lập, tự chủ" (Ảnh: VGP)
Đây là sự phát triển với tốc độ khoảng 12-15%/năm theo tất cả các dự báo về nhu cầu thị trường ô tô trong giai đoạn tới. Vì vậy, thị trường ô tô và sản phẩm ô tô cần phát triển để đáp ứng nhu cầu và do đó, ngành công nghiệp ô tô cũng phải phát triển theo.
Chúng ta đã có hơn 30 năm xúc tiến đầu tư phát triển ngành ô tô để cạnh tranh và phát triển, và chúng ta đã đạt được những thành tựu rõ rệt. Bên cạnh những sản phẩm ô tô được sản xuất lắp ráp trong nước, chúng ta đã có những ô tô mang thương hiệu Việt. Đó là một thành công.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã có một ngành công nghiệp ô tô. Bởi vì ngành công nghiệp ô tô không chỉ liên quan đến lao động trực tiếp trong công nghiệp (hàng trăm nghìn người) mà còn liên quan đến tất cả các dịch vụ phụ trợ. Ví dụ như ngành công nghiệp cao su cũng phát triển gián tiếp và trực tiếp kèm theo ngành công nghiệp ô tô. Đây là những yếu tố vô cùng quan trọng.
Trong bối cảnh thực tế vừa qua, chúng ta có những thành tựu và cả những hạn chế. Do đó, chúng ta cần có những định hướng trong thời gian tới để thực sự đáp ứng nhu cầu thị trường ô tô, tiến tới 01 triệu hoặc 900.000 chiếc ô tô bao gồm ô tô con, ô tô khách, ô tô du lịch, ô tô chuyên dụng, ô tô tải và các loại ô tô khác trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 và 2035.
Theo TS. Ngô Nhật Thái, ngành công nghiệp ô tô là một ngành vô cùng quan trọng đối với đất nước chúng ta. Ngành công nghiệp ô tô của chúng ta không chỉ phục vụ cho dân sinh mà còn cho cả quốc phòng và rất nhiều ngành khác nữa.
Điều chúng ta trăn trở chính là tỉ lệ nội địa hóa còn hơi thấp. Theo thống kê, đến giờ này chúng ta mới chỉ đạt khoảng 10% đối với dòng xe 5 chỗ ngồi, xe du lịch cỡ nhỏ. Còn xe chuyên dùng hoặc xe tải, xe buýt, tỉ lệ có thể cao hơn, tới 40%. Nhưng tỉ lệ cho dòng xe con của chúng ta quá thấp, đặc biệt là so với các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia hay Indonesia. Chúng ta đang đi sau họ.
Cũng theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, chính sách của chúng ta đã được bảo hộ tốt với mục đích là sản xuất tại chỗ. Còn nếu nhập khẩu ô tô vào thì có lẽ Việt Nam là một trong những quốc gia thuế ô tô nhập khẩu thuộc diện nhóm cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu mong muốn là nội địa hóa. Chúng ta cũng đã có sản phẩm ô tô được lắp ráp Việt Nam. Có thể nói rằng, sản xuất tại Việt Nam theo nghĩa lắp ráp khá nhiều, trên chục thương hiệu ô tô, đặc biệt là nhóm xe nhỏ, xe vận tải nhỏ, xe con, xe dùng cho cá nhân. Điều đáng băn khoăn nhất là tỉ lệ nội địa hóa của nhóm này chỉ khoảng 10%, gần như không, chưa được coi là nội địa hóa.
Cần có cơ chế, chính sách cụ thể để tăng tỷ lệ nội địa hóa ngành ô tô
TS. Nguyễn Văn Hội, trong khoảng hơn 30 năm qua, từ khi thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên về ô tô thì Việt Nam có những cơ chế chính sách thúc đẩy sự đầu tư nước ngoài cũng như hỗ trợ để làm sao nội địa hóa ngành công nghiệp ô tô.
Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi cam kết đầu tư vào Việt Nam đều có cam kết về 2 mục tiêu Việt Nam quan tâm. Một là nội địa hóa, hai là chuyển giao công nghệ. Cho đến thời điểm này, phải nói rằng chưa đạt được hoặc là đạt được tỉ lệ không đáng kể. Mục tiêu đến năm 2020 là 40% nhưng đến nay mới là 10%, không đạt mục tiêu về tỉ lệ nội hóa cũng như chuyển giao công nghệ.
Việt Nam đã có rất nhiều ưu đãi về đất đai này, về vốn vay vốn tín dụng, về thuế và các ưu đãi về tài chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam. Đặc biệt, chúng ta có thuế nhập khẩu đối ô tô nguyên chiếc.
Tuy nhiên, nhập khẩu vẫn rất lớn. Năm 2024, nhập khẩu lên đến 172.000 ô tô các loại. Đây là một con số rất lớn so với các nước. Thái Lan sản xuất 2 triệu chiếc nhưng họ xuất khẩu 1 triệu chiếc ô tô các loại.
Về cơ chế chính sách, chúng ta cũng đã ban hành rất nhiều cơ chế chính sách. Trong 10 năm qua, cơ chế chính sách cũng đã đủ mạnh. Trong đó, rất nhiều lĩnh vực về công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô, kể cả vấn đề khung sườn, vỏ, xăm, lốp, truyền động... trong Nghị định số 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ vừa sửa đổi, bổ sung đều đã có.
Chương trình khuyến công quốc gia cũng đã tập trung hỗ trợ các ngành công nghiệp, kể cả ngành công nghiệp nghiên cứu chế tạo hoặc các ngành công nghiệp liên quan đến bao bì như nhãn mác, kiểu dáng công nghiệp.
Về các chương trình xúc tiến thương mại, đặc biệt nhất phải kể đến là Việt Nam có Chương trình thương hiệu quốc gia, đã góp phần rất nhiều xây dựng được những thương hiệu xe ô tô của Việt Nam. Không ít thì nhiều cũng đã góp tương đối đáng kể trong phát triển thương hiệu Việt Nam giai đoạn vừa qua. Việt Nam cũng đã có cơ chế chính sách, có những biện pháp, có giải pháp.
Tuy nhiên, thực sự những cơ chế chính sách là chưa đủ, chưa mạnh, chưa đủ thiết thực để thúc đẩy nội địa hóa ngành công nghiệp ô tô. Đấy là một thách thức trong thời gian tới.
TS. Ngô Nhật Thái cho rằng, tỉ lệ nội địa hóa của chúng ta thấp có rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân đầu tiên phải nói là khách quan, tức là số lượng tiêu thụ hằng năm ở Việt Nam hiện nay là rất thấp so với những nước sản xuất ô tô hàng đầu thế giới.
Chính sách của chúng ta làm thế nào thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải đưa đối tác vào tham gia ở Việt Nam, thành lập các liên doanh hoặc thậm chí các xí nghiệp, các công ty 100% vốn của họ để sản xuất tại Việt Nam.
Chúng ta đã có rất nhiều chính sách. Riêng chính sách thuế TS. Ngô Nhật Thái thấy nên chăng cần xem lại. Hiện nay thuế chúng ta đã từng bước thay đổi và hiện tại thuế nhập khẩu linh kiện vào Việt Nam đã thay đổi từ nhập theo dạng SKD, rồi CKD, rồi IKD… đã được sửa thành thuế tính theo chi tiết. Tính thuế theo từng loại chi tiết khác nhau và mỗi chi tiết có một mức thuế rõ ràng. Với cách đó, đương nhiên cái nào thuế thấp thì họ nhập khẩu, cái thuế cao thì phải hướng người ta sản xuất trong nước.
Nhưng nhìn lại biểu thuế, thấy có thể chúng ta mới tập trung vào mức thuế với thân xe, các chi tiết bằng thép. Vì thế, những công ty tập trung đầu tư các dây chuyền sản xuất dập để tạo thành thân xe. Thế nhưng ôngcho rằng chúng ta cần phải chỉ ra trong một chiếc xe con, ví dụ như vậy, cái gì là quan trọng, cụm gì là cụm quan trọng nhất của chiếc xe và chúng ta tập trung vào.
Chính sách thuế phải đưa ra những biểu thuế để khuyến khích hay nói cách khác là bắt buộc các nhà đầu tư phải tập trung vào để sản xuất ở trong nước thì mới được giảm thuế.
Anh Đào