09:33 20/01/2020

VEPR: Khu vực FDI vẫn là đầu tàu thương mại của kinh tế Việt Nam.

Theo viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR, tương lai của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2019 trở nên bất định hơn do có thể chịu những ảnh hưởng từ các cú sốc trên thị trường quốc tế. Thuy nhiên Với mức tăng trưởng đạt 6,79% của quý 1, nhóm nghiên cứu Kinh tế vĩ mô của VEPR cho rằng mục tiêu tăng trưởng 6,6 - 6,8% của năm 2019 do Quốc hội đề ra khả thi.

Thông tin được đưa ra tại buổi Tọa đàm “Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý I/2019” do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức chiều ngày 11/4 tại Hà Nội.

Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê (TCTK), tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2019 đạt mức 6,79%, chứng tỏ đà tăng trưởng có phần giảm sút.

Khu vực dịch vụ tăng trưởng ở mức 6,5%  trong quý I, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước ở mức 6,7%. Bán buôn và bán lẻ với mức tăng trưởng 7,82% tiếp tục là ngành đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế (0,95 điểm phần trăm)…

Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Thế Anh, Chuyên gia kinh tế, Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, với mức tăng trưởng đạt 6,79% của quý I, nhóm nghiên cứu Kinh tế vĩ mô của VEPR cho rằng mục tiêu tăng trưởng 6,6 - 6,8% của năm 2019 do Quốc hội đề ra khả thi. Tuy nhiên, trước vấn đề cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung và chủ nghĩa bảo hộ, rủi ro của kinh tế Trung Quốc, tương lai không rõ ràng của tiến trình Brexit và mâu thuẫn trong nội bộ khu vực EU, có thể có những cú sốc bên ngoài, có tác động nhất định tới diễn biến của  nền kinh tế Việt Nam trong năm 2019. 

VEPR cũng nhận định, tỷ lệ lạm phát bình quân quý 1 đang ở mức vừa phải (2,63%), tuy nhiên đang có xu hướng gia tăng gần đây. Tác động của việc tăng giá điện và xăng dầu vừa qua đến CPI có thể kéo dài tới 2 - 6 tháng. Do vậy, để đạt được mục tiêu lạm phát dưới 4%, chính sách tiền tệ của NHNN vẫn cần sự thận trọng. 

VEPR: Khu vực FDI vẫn là đầu tàu thương mại của kinh tế Việt Nam.
Ảnh : baochinhphu
Công bố từ Tổng cục thống kê cho thấy, cả nước có 43.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong quý 1. Song bên cạnh đó, nền kinh tế đã chứng kiến sự đào thải khốc nghiệt, với những con số “biết nói” của 14.800 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, 15.300 doanh nghiệp chờ giải thể và 4.100 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.

Bên cạnh đó nhóm tác giả thực hiện báo cáo lo ngại có sự bất ổn khi mà cán cân thương mại hàng hóa trong tháng Một xuất siêu 816 triệu USD, sang tháng Hai quay lại nhập siêu 768 triệu USD, nhưng đến tháng Ba ước tính xuất siêu 600 triệu USD.

Như vậy, tính chung ba tháng đầu năm, cả nước vẫn đạt xuất siêu 536 triệu USD, tuy nhiên điều này có được là nhờ vào khu vực FDI (kể cả dầu thô) xuất siêu đến 7,57 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn ghi nhận mức nhập siêu đến 7,04 tỷ USD.

Đối với thị trường xuất khẩu của Việt Nam, hiện Mỹ đang đứng đầu với 13 tỷ USD, EU đạt 10,2 tỷ USD và Trung Quốc là 7,6 tỷ USD, sau đó lần lượt là ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thời gian qua, các liên kết kinh tế lớn trên thế giới cho thấy có sự rạn nứt và điều này đang gây ra không ít những bất ổn cho chính nhóm các quốc gia này, song Việt Nam cũng khó có thể tránh khỏi, đặc biệt trong hoạt động thương mại trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Để nâng cao khả năng chống chọi trước những bất ổn từ bên ngoài, nhóm tác giả kiến nghị, Việt Nam cần từng bước xây dựng đệm tài khóa, trước tiên thông qua việc tinh giản bộ máy Nhà nước và cắt giảm chi tiêu thường xuyên.

Vấn đề thâm hụt ngân sách kéo theo những rủi ro về môi trường và quản lý lao động nước ngoài. Đã đến lúc Việt Nam cần rà soát lại các chính sách ưu đãi về thuế khóa hay đất đai đối với FDI nhằm tạo ra môi trường bình đẳng hơn với các doanh nghiệp trong nước.

Đoàn Ninh(T/H)