10:21 16/07/2025

Bỏ room tín dụng: Mở nhưng không buông

Kinh tế

Việc bỏ “room tín dụng” là một sự thay đổi lớn, mang tính cải cách đột phá, mở đường cho dòng vốn chảy tự do hơn trong nền kinh tế. Nhưng song hành với sự nới lỏng thì yêu cầu phải nâng cao năng lực giám sát để đảm bảo an toàn hệ thống, tránh rủi ro đổ vỡ, đặc biệt là trong bối cảnh sở hữu chéo, nợ xấu, tín dụng nội bộ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Mở nhưng phải giám sát chặt

Cơ chế giao chỉ tiêu tín dụng, hay còn gọi là “room tín dụng” đã được Ngân hàng Nhà nước áp dụng từ năm 2012, nhằm kiểm soát chất lượng tín dụng, hỗ trợ điều hành lãi suất, lượng tiền và lạm phát. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò kiểm soát cung tiền và tín dụng thông qua hệ thống công cụ “room tín dụng”, căn cứ vào tình hình cụ thể giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm cho từng ngân hàng thương mại.

Theo đó, cơ chế này đã góp phần rất quan trọng vào việc giữ ổn định hệ thống ngân hàng, kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý trong hơn một thập kỷ qua. Đây được xem là thành công lớn trong điều tiết chính sách tiền tệ của Nhà nước.

Mặc dù vậy, trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, việc cấp tín dụng cần thực hiện một cách linh hoạt hơn theo nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên việc nới lỏng cơ chế room tín dụng cần phải được kiểm soát bằng hệ thống giám sát chủ động, dữ liệu thời gian thực, công nghệ tiên tiến và quy định pháp lý rõ ràng.

Bỏ room tín dụng Mở nhưng không buông
Phải giám sát chặt khi bỏ room tín dụng

Được xem là yêu cầu tất yếu trong quá trình hiện đại hóa công cụ chính sách tiền tệ, bên cạnh việc giám sát từ cơ quan chuyên môm thì việc nâng cao năng lực thẩm định dự án, quản trị rủi ro, kiểm soát chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng cũng cần được xem xét cẩn trọng. TS Lê Đạt Chí (Đại học Kinh tế TP.HCM) nhấn mạnh: “Khi tín dụng tự do hơn, các ngân hàng buộc phải nâng cao năng lực thẩm định dự án, quản trị rủi ro, kiểm soát chất lượng tín dụng để tránh nợ xấu.”

Để tiến gần đến với thông lệ quốc tế, từ đầu năm 2025, chỉ còn các ngân hàng thương mại trong nước phải tuân theo hạn mức, trong khi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức phi tín dụng đã được dỡ bỏ. Được xem là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường, nhưng PGS.TS Nguyễn Thị Mùi – Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia nhìn nhận: “Việc xóa bỏ hoàn toàn hạn mức tín dụng chỉ nên được thực hiện theo lộ trình chặt chẽ, đi kèm với bộ công cụ giám sát hiệu quả”.

Khi không còn hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ có toàn quyền quyết định quy mô tín dụng theo chiến lược riêng, thị trường vận hành hoàn toàn theo quy luật của thị trường và cơ chế cung - cầu. Tuy nhiên, nếu bỏ công cụ hạn mức, việc điều hành chính sách tiền tệ sẽ cần có giải pháp để vừa bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, lành mạnh, vừa phòng tránh được những rủi ro từ tín dụng tăng nóng như đã từng xảy ra trong quá khứ.

Theo TS Lê Duy Bình (Economica Việt Nam): “Việc loại bỏ room tín dụng không có nghĩa là cho phép tăng tổng nợ của nền kinh tế một cách thoải mái. Cần phải đảm bảo kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng phù hợp, tránh gây lạm phát hoặc bất ổn vĩ mô.”

Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước - ông Phạm Chí Quang khẳng định: “Việc gỡ bỏ cơ chế room tín dụng là một phần trong chiến lược điều hành linh hoạt, từng bước theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, đây không phải là động thái buông lỏng kiểm soát tín dụng, mà đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa năng lực giám sát.”

Theo đó, dù chính sách bỏ room tín dụng được ban hành, cho phép các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong việc cấp tín dụng, nhưng kèm theo đó là thông điệp rất rõ ràng từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, việc “nới trần tín dụng không có nghĩa là buông lỏng giám sát”, để đảm bảo chất lượng tín dụng, ngăn chặn dòng vốn chảy vào lĩnh vực rủi ro, đầu cơ hoặc doanh nghiệp “sân sau”, một loạt công cụ giám sát mới đã và đang được Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu, áp dụng, từ công nghệ đến thể chế.

Cần công cụ giám sát mới để ngăn tín dụng chảy không đúng chỗ

TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu & cạnh tranh: “Việc loại bỏ công cụ hành chính trong điều hành tăng trưởng tín dụng không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật... mà còn là bước tiến quan trọng trong cải cách thể chế tài chính‑ngân hàng... Tuy nhiên, nền tảng để thay thế room tín dụng hiệu quả là cần có hệ thống giám sát thông minh, liên thông dữ liệu và cảnh báo sớm rủi ro.”

Theo đó, việc từ bỏ công cụ hành chính này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng và áp dụng các công cụ giám sát mới nhằm đảm bảo ổn định tài chính vĩ mô và kiểm soát rủi ro tín dụng. Trong đó có thể áp dụng các công cụ giám sát cần thiết nếu bỏ room tín dụng, như việc chuyển từ công cụ hành chính sang giám sát theo rủi ro, kết hợp công nghệ số, dữ liệu lớn và tiêu chuẩn quốc tế sẽ là chìa khóa để nâng cao năng lực kiểm soát tín dụng trong thời kỳ mới, cụ thể:

Bỏ room tín dụng Mở nhưng không buông
Cần công cụ giám sát mới để ngăn tín dụng chảy không đúng chỗ (ảnh minh họa)

Tăng cường tiêu chí an toàn vốn – tiêu chuẩn Basel III, đây được xem là một trong những nền tảng đầu tiên cần áp dụng là việc giám sát hệ thống ngân hàng dựa trên các chuẩn mực quốc tế như Basel II và hướng tới Basel III.

Việc áp dụng các tiêu chuẩn này không chỉ giúp nâng cao khả năng chống chịu của ngân hàng trước rủi ro mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh khi các ngân hàng có năng lực tốt sẽ được cấp hạn mức tín dụng linh hoạt hơn. Đặc biệt, hệ số CAR phản ánh năng lực tự bảo vệ của ngân hàng trước thua lỗ, từ đó là cơ sở đáng tin cậy để điều tiết tăng trưởng tín dụng.

Bên cạnh đó cần thực hiện cơ chế giám sát theo hành vi rủi ro và chất lượng tài sản, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay đối với từng lĩnh vực rủi ro cao ví thể như lĩnh vực bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp. Mô hình quản trị rủi ro theo ngành nghề, nhóm khách hàng hoặc theo thời gian đáo hạn cần được xây dựng chi tiết. Bên cạnh đó, cần có hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng giúp phát hiện xu hướng tăng trưởng nóng, tăng vay ngắn hạn để đảo nợ hoặc tín dụng chảy vào lĩnh vực đầu cơ.

Công cụ điều tiết thị trường mở và lãi suất điều hành, theo đó, Ngân hàng Nhà nước cần điều tiết thanh khoản thông qua các công cụ gián tiếp mang tính thị trường như: Lãi suất điều hành, với việc tăng/giảm lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu để ảnh hưởng đến chi phí vốn của ngân hàng. Việc mua/bán tín phiếu hoặc trái phiếu để kiểm soát lượng tiền trong lưu thông. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Tăng để hút tiền về, giảm để bơm thanh khoản.

Một yếu tố quan trọng khác để giảm thiểu rủi ro tín dụng là phát triển hệ thống xếp hạng tín dụng quốc gia, hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và khách hàng. Hệ thống này cần đồng bộ với các cơ sở dữ liệu lớn như Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia, cơ quan thuế, đăng ký kinh doanh và được số hóa để cập nhật thường xuyên. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, AI và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và tăng cường phối hợp chính sách và giám sát vĩ mô.

Việc loại bỏ room tín dụng chỉ thành công nếu được đặt trong bối cảnh điều hành đồng bộ với chính sách tài khóa, chính sách tỷ giá và giám sát thị trường vốn. Cơ quan quản lý cần giám sát dòng vốn liên thị trường: nếu tín dụng ngân hàng bị siết chặt thì doanh nghiệp sẽ chuyển sang phát hành trái phiếu hoặc vay nước ngoài, từ đó phát sinh rủi ro khác.

Bên cạnh đó, các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, vàng… cũng cần được theo dõi sát sao để tránh tín dụng đổ dồn vào các kênh đầu cơ, gây bất ổn vĩ mô. Dỡ bỏ room tín dụng là một bước cải cách quan trọng để hướng đến hệ thống ngân hàng vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, để làm được điều đó một cách an toàn và hiệu quả, cần có một hệ sinh thái công cụ giám sát hiện đại, chủ động và minh bạch./.

Hải Bình

Bạn đang đọc bài viết Bỏ room tín dụng: Mở nhưng không buông tại chuyên mục Kinh tế của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]