14:39 23/09/2025

Dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh: Cần làm rõ quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư

Góp ý sơ bộ về Dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, Dự thảo hiện chưa thống nhất trong cách quy định về mối quan hệ giữa thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và quá trình lựa chọn nhà đầu tư qua đấu giá, đấu thầu.

Không nên đưa danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện xuống nghị định

Mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh.

Theo VCCI, tại quy định tại khoản 2 Điều 4, khoản 9 Điều 7 Dự thảo, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ quy định tại văn bản cấp nghị định. Quy định này cần được cân nhắc, xem xét dưới các góc độ.

Cụ thể, việc quy định danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong Luật Đầu tư từ năm 2014 đến nay là một thành công lớn. Nó bảo đảm tính công khai, minh bạch, giúp kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các điều kiện kinh doanh ở văn bản dưới luật. Đây là tinh thần "người dân, doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm".

Trong khi đó, dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh đề xuất đưa danh mục này từ cấp luật xuống văn bản cấp nghị định. Nếu đưa danh mục này xuống nghị định, VCCI lo ngại sẽ không thể kiểm soát được tình trạng các bộ, ngành tự bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh có điều kiện một cách tùy nghi thông qua các nghị định khác.

Việc ban hành nghị định dễ dàng và ít được giám sát chặt chẽ hơn ban hành luật có thể dẫn tới tình trạng, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sẽ được bổ sung một cách tùy nghi, không được kiểm soát chặt chẽ và doanh nghiệp sẽ không thể nhận biết được các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện có trên thực tế.

Dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh Cần làm rõ quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư

Thực tế, trong hệ thống pháp luật kinh doanh cũng có Danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện quy định theo Luật Thương mại năm 2005. Nhưng từ khi ra đời, Danh mục này gần như không được áp dụng bởi sự lỗi thời và không có giá trị hiệu lực khi không được cập nhật thường xuyên, không có cơ chế kiểm soát việc bổ sung, sửa đổi Danh mục và cũng không có mục tiêu rõ ràng. Nếu Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại văn bản cấp nghị định, nhiều khả năng cũng có thể rơi vào tình trạng như Danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện.

Do đó, VCCI đề nghị giữ nguyên như quy định hiện hành quy định Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư.

Cần làm rõ quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư

Về thủ tục chấp thuận nhà đầu tư và các phương thức lựa chọn nhà đầu tư, Điều 26 nêu rằng các dự án đầu tư được thực hiện trên cơ sở trúng đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trúng thầu lựa chọn nhà đầu tư (bao gồm cả trường hợp chỉ định thầu hoặc khi mục đích sử dụng đất thay đổi sau đấu giá, đấu thầu) sẽ không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiểu theo quy định này, việc chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ diễn ra sau thủ tục đấu giá, đấu thầu.

Trong khi đó, Điều 25 lại quy định việc lựa chọn nhà đầu tư qua đấu giá, đấu thầu phải tiến hành sau khi dự án đã được chấp thuận chủ trương, trừ những trường hợp không thuộc diện phải xin chấp thuận. Điều này đồng nghĩa với việc nhà đầu tư, sau khi được lựa chọn, sẽ không cần thêm bước xin chấp thuận nữa.

Đáng nói, đối chiếu với Điều 27 và 28 về các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, có thể thấy những dự án quy định tại Điều 26 cũng không nằm trong diện này.

Như vậy, giữa các quy định từ Điều 25 đến Điều 28 Dự thảo đang không rõ và chưa thống nhất về dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư trường hợp lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đấu giá, đấu thầu.

Để đảm bảo tính rõ ràng và thuận lợi, VCCI đề nghị cân nhắc quy định, đối với những trường hợp đấu giá, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thì không cần phải chấp thuận chủ trương đầu tư trừ những dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ tại Điều 27, thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại Điều 28.

Về thủ tục đầu tư ra nước ngoài, theo quy định tại Mục 2 Chương V Dự thảo, các dự án có vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên phải thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Nhà đầu tư phải thực hiện điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài khi: thay đổi hình thức đầu tư; thay đổi vốn đầu tư ra nước ngoài; nguồn vốn đầu tư, hình thức vốn đầu tư; thay đổi địa điểm thực hiện hoạt động đầu tư đối với các dự án đầu tư yêu cầu phải có địa điểm đầu tư; thay đổi mục tiêu chính của hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

So với quy định hiện hành, Dự thảo đã đơn giản nhiều thủ tục liên quan đầu tư ra nước ngoài như: bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài; giới hạn chỉ những dự án có vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên mới phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thay vì bất kì dự án nào cũng phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận này.

Mặc dù, Dự thảo đã có nhiều cải cách tạo thuận lợi hơn về thủ tục đầu tư ra nước ngoài, nhưng việc vẫn giữ yêu cầu phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án đầu tư có vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên cần được cân nhắc ở các điểm sau:

Yêu cầu các dự án có nguồn vốn từ tư nhân phải thực hiện Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài là chưa phù hợp và hoàn toàn không rõ về mục tiêu quản lý. Ngay cả hoạt động đầu tư trong nước, không phải hoạt động đầu tư nào cũng yêu cầu phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thì tất cả hoạt động đầu tư ra nước ngoài đều phải xin giấy phép để được đầu tư ra nước ngoài là chưa hợp lý.

Trong khi, các điều kiện đầu tư lại do pháp luật nước ngoài quy định, không phải là pháp luật Việt Nam. Điều này tạo gánh nặng rất lớn về thủ tục cho nhà đầu tư, nhất là khi có sự thay đổi trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư cũng phải thực hiện thủ tục để điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài.

Nếu có những lo ngại liên quan đến ngoại hối đã có sự quản lý của hệ thống pháp luật về ngoại hối.

Việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài sẽ là hình thức hạn chế đáng kể đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư và đi ngược lại chính chủ trương “Nhà nước khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản trị và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.” đang ghi nhận tại khoản 1 Điều 42 Dự thảo.

Do đó, VCCI đề nghị cân nhắc bỏ cơ chế quản lý theo hướng cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài.

Anh Đào