09:30 20/08/2026

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Sau gần 2 năm xây dựng và 4 lần lấy ý kiến doanh nghiệp, Bộ Công Thương đã công bố dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu thay thế Nghị định 80/2023/NĐ-CP để trình Chính phủ. Theo đánh giá của Công ty CP Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), dự thảo có nhiều thay đổi đáng chú ý, từ cơ chế điều hành giá, điều kiện gia nhập thị trường đến cấu trúc hệ thống phân phối. Những thay đổi này được đánh giá có thể tạo ra sự tái cấu trúc đáng kể đối với ngành xăng dầu.

Giá xăng dầu được định hướng vận hành theo cơ chế thị trường

Một trong những điểm mới đáng chú ý là Điều 4 của dự thảo bổ sung mục tiêu và nguyên tắc điều hành kinh doanh xăng dầu theo hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hài hòa lợi ích giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp sử dụng và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.

Theo KBSV, cơ chế giá bán sẽ được điều chỉnh linh hoạt hơn nhằm phù hợp với các biến động và thay đổi về chi phí. Bù lại, việc tiết kiệm chi phí được đề cao thông qua việc tinh gọn giảm bớt khâu trung gian và yêu cầu kiểm tra giám sát công bố giá của doanh nghiệp phân phối.

Đồng thời, việc lợi ích của người tiêu dùng cũng sẽ được bảo vệ và duy trì hài hòa nhờ cấu trúc ngành xăng dầu của Việt Nam vẫn được chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước giúp giá bán nhiên liệu giữ ở mức tối ưu và bám sát các mục tiêu ổn định giá cả mà Chính phủ đặt ra.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 Thị trường linh hoạt hơn doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Điểm thay đổi quan trọng là dự thảo chuyển từ cơ chế giá cơ sở do Chính phủ xác định sang cơ chế giá thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp có nhiều quyền tự chủ hơn trong việc quyết định biên lợi nhuận.

Dự thảo mới chuyển từ cơ chế giá cơ sở do Chính phủ xác định sang cơ chế giá thị trường, cho phép các thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối xăng dầu tự do chủ động thiết lập giá bán buôn, bán lẻ; trong khi Chính phủ thực hiện giám sát việc tính toán giá.

Chi phí kinh doanh định mức được công bố và điều chỉnh hàng năm dựa trên CPI, đồng thời rà soát 3 năm/lần. Trong khi đó, mức lợi nhuận định mức 300 đồng/lít không còn được Chính phủ ấn định cố định. Doanh nghiệp có thể chủ động xác định lợi nhuận theo thực tế kinh doanh.

KBSV cho rằng cơ chế này giúp doanh nghiệp có nhiều quyền tự chủ hơn trong việc quyết định biên lợi nhuận và cho phép giá bán phản ánh sát hơn các chi phí thực tế. Dự thảo cũng không còn quy định riêng về chi phí vận chuyển định mức và premium.

Theo đánh giá của KBSV, việc điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm hài hòa lợi ích giữa các bên. Cấu trúc ngành xăng dầu Việt Nam vẫn được chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước, qua đó theo báo cáo có thể hỗ trợ việc duy trì nguồn cung và bám sát mục tiêu ổn định giá cả.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 Thị trường linh hoạt hơn doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Biên lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại Ấn Độ, 2010-2025

KBSV dẫn trường hợp Ấn Độ, nơi thị trường xăng dầu chuyển sang cơ chế giá thị trường từ năm 2014. Theo dữ liệu được tổng hợp trong báo cáo, biên lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại Ấn Độ có xu hướng cải thiện sau khi chuyển đổi, đồng thời biến động mạnh hơn theo chu kỳ thị trường. Biên lợi nhuận giảm đáng kể trong các năm 2020 và 2023 do suy thoái kinh tế.

Theo KBSV, mô hình tại Ấn Độ giúp thu hút thêm dòng vốn tư nhân vào lĩnh vực xăng dầu, trong khi các doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì vị thế thị phần lớn, qua đó nguồn cung nhiên liệu được giữ ổn định với chi phí cạnh tranh.

Siết điều kiện đầu mối, nới điều kiện thương nhân phân phối

Cùng với thay đổi về giá, dự thảo đề xuất siết chặt điều kiện cấp phép đối với thương nhân đầu mối. Theo dự thảo, thương nhân đầu mối phải có cầu cảng chuyên dụng có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải tối thiểu 7.000 DWT, được sở hữu hoặc thuê tối thiểu 5 năm tính từ ngày tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Đối với kho tiếp nhận xăng dầu, tổng sức chứa phải đạt tối thiểu 15.000 m3 và doanh nghiệp bắt buộc phải sở hữu bồn, bể chứa.

Dự thảo bỏ điều kiện về phương tiện vận tải đối với cấp phép thương nhân đầu mối. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu và 40 cửa hàng thuộc thương nhân phân phối trong hệ thống quản lý. Đặc biệt, doanh nghiệp muốn trở thành thương nhân đầu mối phải có ít nhất 36 tháng liên tục hoạt động với tư cách thương nhân phân phối xăng dầu trước khi lập hồ sơ.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 Thị trường linh hoạt hơn doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 siết điều kiện đầu mối nhưng nới điều kiện thương nhân phân phối

Một điểm mới khác là cơ chế độc quyền về sở hữu cơ sở vật chất. Kho, bồn bể, hệ thống phân phối và trang thiết bị hàng không đã được sử dụng để đáp ứng điều kiện đối với một thương nhân đầu mối sẽ không được sử dụng cho thương nhân khác để đáp ứng điều kiện tương tự.

KBSV đánh giá việc bỏ phương án thuê kho nhằm tránh tình trạng thuê kho "ảo" để đáp ứng điều kiện cấp phép, trong khi yêu cầu về kinh nghiệm 36 tháng tạo thêm rào cản về năng lực, buộc doanh nghiệp phải có thời gian vận hành hệ thống phân phối thực tế trước khi trở thành thương nhân đầu mối.

Theo KBSV, các điều kiện chặt chẽ hơn có thể thúc đẩy quá trình sàng lọc những doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc yếu kém. Khi số lượng đối thủ giảm, các thương nhân đầu mối lớn có thể củng cố vị thế thương lượng và thị phần đối với hệ thống đại lý, qua đó giảm áp lực chiết khấu và hỗ trợ cải thiện lợi nhuận trên mỗi lít.

Trái với thương nhân đầu mối, điều kiện để trở thành thương nhân phân phối được dự thảo đơn giản hóa đáng kể. Doanh nghiệp chỉ cần tối thiểu một cửa hàng thuộc sở hữu hoặc thuê sử dụng có giấy chứng nhận, đồng thời không còn yêu cầu về kho chứa và phương tiện vận chuyển.

KBSV cho rằng số lượng doanh nghiệp tham gia nhóm thương nhân phân phối có thể tăng khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa trước đây chỉ phụ trách bán lẻ được tham gia mô hình này.

Tinh gọn hệ thống phân phối

Dự thảo cũng thay đổi đáng kể cấu trúc các chủ thể tham gia chuỗi giá trị xăng dầu. Theo Nghị định 80/2023/NĐ-CP, chuỗi phân phối gồm thương nhân đầu mối, nhà phân phối bán buôn và nhà phân phối bán lẻ (đại lý). Dự thảo mới tổ chức thành thương nhân đầu mối, thương nhân đại lý/ủy quyền và thương nhân tự do. 

Đối với thương nhân phân phối, dự thảo cho phép lựa chọn nhiều mô hình hoạt động. Nếu lựa chọn làm đại lý hoặc nhận quyền bán lẻ, thương nhân phân phối chỉ được ký hợp đồng với một thương nhân đầu mối. Nếu lựa chọn hình thức thương nhân tự do, doanh nghiệp được phép mua hàng từ nhiều thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối khác.

Với thương nhân tự do, việc mua bán chéo được phép thực hiện và doanh nghiệp tự áp dụng giá bán lẻ. Trong khi đó, nếu hoạt động theo mô hình đại lý, doanh nghiệp áp dụng giá bán lẻ do thương nhân đầu mối chỉ định.

Dự thảo đồng thời loại bỏ vai trò của tổng đại lý, đại lý và cửa hàng bán lẻ như những cấp riêng biệt trong cấu trúc phân phối.

Về cơ cấu thị trường, KBSV cho biết năm 2025 có 26 doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu. Trong đó, Petrolimex (PLX) chiếm khoảng 47% thị phần, PVOIL (OIL) khoảng 20%, Thanh Lễ 8% và Saigon Petrol 6%. Số lượng thương nhân phân phối trong năm 2025 là 252 doanh nghiệp.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 Thị trường linh hoạt hơn doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Số lượng các doanh nghiệp tham gia làm đầu mối/phân phối xăng dầu

Dữ liệu của KBSV cho thấy số lượng thương nhân phân phối tăng mạnh sau khi Nghị định 83/2014/NĐ-CP nới lỏng điều kiện gia nhập, đạt khoảng 500 doanh nghiệp vào năm 2022. Từ năm 2022, số lượng giảm đáng kể khi Nhà nước tăng cường thanh tra điều kiện kinh doanh, siết điều kiện và thu hồi giấy phép. 

Báo cáo cũng ghi nhận biên lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu có xu hướng suy giảm trong giai đoạn 2014-2025. Nguyên nhân được KBSV chỉ ra là chi phí kinh doanh và lợi nhuận định mức không được điều chỉnh tương ứng trong khi chi phí thực tế ngày càng tăng.

Trung Anh