Ngày 22/12, thị trường cao su ghi nhận diễn biến trái chiều giữa trong nước và thế giới. Trong khi giá cao su quốc tế biến động mạnh, phản ánh tâm lý thận trọng của giới đầu tư trước giai đoạn cuối năm, thì tại Việt Nam, các doanh nghiệp lớn vẫn duy trì mặt bằng giá thu mua ổn định, chưa có điều chỉnh mới so với những phiên trước.
Giá cao su thế giới
Tuần qua, thị trường cao su quốc tế chứng kiến trạng thái giằng co rõ nét trên các sàn giao dịch lớn, trong bối cảnh thanh khoản sụt giảm do hoạt động giao dịch bước vào giai đoạn trầm lắng cuối năm, đồng thời những lo ngại về nguồn cung toàn cầu phần nào hạ nhiệt.
Tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2026 giảm nhẹ 0,2%, xuống còn 61,4 Baht/kg, gần như đi ngang so với cuối tuần trước. Ngược lại, thị trường Nhật Bản có diễn biến tích cực hơn khi giá cao su trên Sàn Osaka (OSE) tăng 0,2%, lên mức 325 Yên/kg. Trong khi đó, tại Trung Quốc, áp lực bán chiếm ưu thế khiến giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 1%, về mức 15.220 Nhân dân tệ/tấn.
Sự phân hóa này tiếp tục thể hiện rõ ở các hợp đồng kỳ hạn xa. Trên OSE, hợp đồng giao tháng 5/2026 tăng 0,4%, lên 331,7 Yên/kg, qua đó ghi nhận mức tăng nhẹ 0,27% trong cả tuần. Trái lại, trên Sàn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5 giảm tới 1,4%, xuống còn 15.190 Nhân dân tệ/tấn. Nhóm cao su butadien, một trong những mặt hàng được giao dịch sôi động, cũng giảm gần 0,6%.
Bên cạnh yếu tố cung – cầu, thị trường cao su còn chịu tác động từ chính sách thương mại của Trung Quốc. Việc Bắc Kinh tiếp tục duy trì thuế chống bán phá giá đối với cao su EPDM nhập khẩu từ Mỹ, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu, với mức thuế có thể lên tới 222%, cho thấy lập trường bảo hộ vẫn khá cứng rắn. Dù Trung Quốc đã bắt đầu rà soát hiệu lực của biện pháp này sau 5 năm áp dụng, động thái trên vẫn tạo thêm áp lực tâm lý đối với thị trường cao su khu vực.
Giá cao su trong nước
Trái với diễn biến rung lắc của thị trường thế giới, giá cao su trong nước ngày 22/12 tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang. Các doanh nghiệp thu mua lớn chưa ghi nhận sự thay đổi đáng kể về giá, phản ánh nguồn cung – cầu trong nước đang ở trạng thái tương đối cân bằng.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá thu mua mủ nước được giữ ở mức 415 đồng/độ TSC/kg đối với mủ có độ TSC từ 25 đến dưới 30. Giá mủ đông DRC (35 – 44%) ổn định ở mức 13.900 đồng/kg, trong khi mủ nguyên liệu được thu mua quanh 18.500 đồng/kg.
Công ty MangYang tiếp tục duy trì mức giá mủ nước trong khoảng 403 – 408 đồng/TSC, tùy theo chất lượng từ loại 2 đến loại 1. Đối với mủ đông tạp, giá thu mua dao động từ 368 – 419 đồng/DRC.
Tại Công ty Phú Riềng, giá thu mua mủ tạp giữ ở mức 390 đồng/DRC, trong khi mủ nước được chào mua ở mức 420 đồng/TSC. Công ty Cao su Bình Long cũng không điều chỉnh giá, với mức thu mua mủ nước tại nhà máy đạt 440 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất là 412 đồng/TSC/kg và giá mủ tạp (DRC 60%) ổn định quanh 14.000 đồng/kg.
Trong bối cảnh thị trường cao su thế giới chưa xác lập xu hướng rõ ràng và vẫn tiềm ẩn nhiều biến động, việc giá cao su trong nước giữ ổn định được xem là yếu tố tích cực, giúp người trồng và doanh nghiệp chế biến có thêm dư địa theo dõi, điều chỉnh kế hoạch sản xuất – kinh doanh trong thời gian tới.
Trung Anh (t/h)