Giá lúa gạo hôm nay 22/7, giá gạo nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long bật tăng từ 150 – 350 đồng/kg, trong khi hoạt động mua bán vẫn vắng lặng. Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam giữ giá cao hơn Thái Lan và Ấn Độ. Trong khi đó, Thái Lan đối mặt nguy cơ mất thị phần gạo thơm tại Mỹ vì chính sách thuế mới.
Giá lúa gạo hôm nay
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động mạnh. Thị trường lượng ít, gạo các loại trong nước và lúa tươi ít biến động, trong khi đó một số mặt hàng gạo nguyên liệu tiếp đà tăng mạnh.
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giá gạo bình ổn. Tại An Giang, kho mua chậm, giá ít biến động. Tại khu vực Lấp Vò (Đồng Tháp), về lượng ít, giá gạo xô các loại bình ổn, các kho mua đều. Tại khu vực Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng lai rai, gạo nguyên liệu các loại bình giá, riêng giá gạo IR50404, CL 555 nhích nhẹ.
Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng lai rai, kho chợ mua đều, giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp mới (Cái Bè, Tiền Giang cũ), lượng về ít, giao dịch mua bán chậm, giá ít biến động.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận mức tăng từ 150 – 350 đồng/kg so với cuối tuần trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 380 tăng 150 đồng/kg, lên mức 7.900 – 8.000 đồng/kg; trong khi gạo CL 555 tăng mạnh 350 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.550 – 8.650 đồng/kg. Trong khi giá gạo nguyên liệu IR 504 duy trì ổn định ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 giữ ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; OM 5451 dao động từ 9.000 – 9.150 đồng/kg;…
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo bán lẻ duy trì ổn định. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen vẫn giữ mức cao nhất với giá 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi. Cụ thể, nếp IR 4625 (khô) duy trì ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi hiện ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm IR 504 cũng tăng thêm 200 đồng/kg, đạt mức 7.300 – 7.500 đồng/kg. Riêng giá cám giữ ổn định, dao động trong khoảng 7.250 – 7.300 đồng/kg; giá trấu hiện ở mức 1.000 - 1.150 đồng/kg.
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động. Tại Cà Mau (Bạc Liêu cũ), nông dân chào bán lúa đều, giá lúa vững. Tại Đồng Tháp, nông dân chào bán giá lúa cao, thương lái hỏi mua lai rai, giao dịch mới chậm. Tại Tại Sóc Trăng (Cần Thơ mới), giao dịch mua bán mới ít, giá tương đối ổn định.
Tại An Giang, lúa thu hoạch có đều, nhu cầu mua bán chậm, giá vững. Tại Hậu Giang (Cần Thơ mới), nhu cầu mua mới ít, giá lúa ít biến động. Tại Tây Ninh mới (Long An cũ), giao dịch lúa mới khá, giá ít biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục đi ngang so với phiên giao dịch hôm qua. Cụ thể, lúa OM 5451 (tươi) dao động mức 5.900 - 6.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) hiện ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; OM 380 duy trì ở mức 5.700 - 5.900 đồng/kg.
Tại thị trường xuất khẩu
Dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy, giá gạo 5% tấm của Việt Nam duy trì ở mức 377 USD/tấn, cao hơn so với sản phẩm cùng loại có giá 374 USD/tấn của Thái Lan và mốc 375 USD/tấn của Ấn Độ. Tuy nhiên, thấp hơn so với mức giá 388 USD/tấn của Pakistan.
Theo Bangkokpost, ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, cảnh báo rằng mức thuế đối ứng 36% đối với gạo thơm của Thái Lan có thể gây tác động nghiêm trọng đến giá cả.
Hiện tại, giá gạo jasmine Thái Lan là 1.100 USD/tấn, nhưng nếu mức thuế này được áp dụng, giá sẽ tăng lên 1.496 USD/tấn.
Ông cho biết nếu các cuộc đàm phán thành công trong việc giảm thuế xuống còn 20%, thì giá gạo jasmine Thái Lan vẫn sẽ tăng lên 1.320 USD/tấn. Càng làm gia tăng khoảng cách giữa gạo thơm jasmine Thái Lan và Việt Nam.
Điều này có thể thúc đẩy các nhà nhập khẩu Mỹ chuyển sang mua gạo Việt Nam và có khả năng làm giảm thị phần của Thái Lan trên thị trường gạo thơm tại Mỹ.
Ông Chookiat cho biết thêm rằng nếu xuất khẩu giảm, giá gạo jasmine Thái Lan có thể giảm đáng kể. Tuy nhiên, việc tìm kiếm thị trường mới cũng là một thách thức do gạo Thái thường có giá cao hơn các đối thủ cạnh tranh.
Thị trường gạo jasmine toàn cầu vốn đã giới hạn ở một số khu vực nhất định, và việc mở rộng sang thị trường châu Âu lại càng khó khăn hơn.
Trong khi đó, Việt Nam đã giành được thị phần lớn tại các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Malaysia và Campuchia, với khối lượng xuất khẩu đang có xu hướng gia tăng.
“Cạnh tranh trên thị trường gạo jasmine đang rất khốc liệt, và các loại gạo khác cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt,” ông Chookiat nhận định.
Liên quan đến các biện pháp thích ứng, ông cho biết việc điều chỉnh là rất khó khăn do thương mại gạo hoạt động với biên lợi nhuận thấp, chủ yếu dựa vào sản lượng.
Sự hỗ trợ từ chính phủ dường như là điều khó xảy ra, ngoại trừ một số trợ giúp tối thiểu dành cho nông dân.
“Chúng tôi thực sự không biết phải làm gì vì tất cả đều đã cắt giảm chi phí đến mức tối đa và không còn gì để cắt giảm nữa. Việc làm gắn liền với khối lượng xuất khẩu, và khi xuất khẩu sụt giảm thì việc làm cũng bị đe dọa trực tiếp,” ông nói.
Ông Chookiat cho biết thêm, trong nửa đầu năm nay, Thái Lan chỉ xuất khẩu được 3,6 triệu tấn gạo, giảm tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, theo Hải quan Việt Nam, nước này đã xuất khẩu được 4,7 triệu tấn gạo trong cùng giai đoạn, tăng 3,6%.
“Chúng tôi dự báo tổng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan sẽ không đạt mục tiêu 7,5 triệu tấn. Hiệp hội sẽ xem xét lại mục tiêu này sau khi phân tích số liệu xuất khẩu của nửa cuối năm nay,” ông cho biết.
Năm ngoái, Thái Lan xuất khẩu sang Mỹ 830.000 tấn gạo, thị trường xuất khẩu lớn nhất của gạo jasmine Thái, bao gồm 630.000 tấn gạo jasmine Thái và 200.000 tấn gạo thơm Thái.
Mỗi năm, Thái Lan xuất khẩu khoảng 1,3 – 1,4 triệu tấn gạo jasmine Thái.
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động mạnh. Thị trường lượng ít, gạo các loại trong nước và lúa tươi ít biến động, trong khi đó một số mặt hàng gạo nguyên liệu tiếp đà tăng mạnh.
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giá gạo bình ổn. Tại An Giang, kho mua chậm, giá ít biến động. Tại khu vực Lấp Vò (Đồng Tháp), về lượng ít, giá gạo xô các loại bình ổn, các kho mua đều. Tại khu vực Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng lai rai, gạo nguyên liệu các loại bình giá, riêng giá gạo IR50404, CL 555 nhích nhẹ.
Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng lai rai, kho chợ mua đều, giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp mới (Cái Bè, Tiền Giang cũ), lượng về ít, giao dịch mua bán chậm, giá ít biến động.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận mức tăng từ 150 – 350 đồng/kg so với cuối tuần trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 380 tăng 150 đồng/kg, lên mức 7.900 – 8.000 đồng/kg; trong khi gạo CL 555 tăng mạnh 350 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.550 – 8.650 đồng/kg. Trong khi giá gạo nguyên liệu IR 504 duy trì ổn định ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 giữ ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; OM 5451 dao động từ 9.000 – 9.150 đồng/kg;…
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo bán lẻ duy trì ổn định. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen vẫn giữ mức cao nhất với giá 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi. Cụ thể, nếp IR 4625 (khô) duy trì ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi hiện ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm IR 504 cũng tăng thêm 200 đồng/kg, đạt mức 7.300 – 7.500 đồng/kg. Riêng giá cám giữ ổn định, dao động trong khoảng 7.250 – 7.300 đồng/kg; giá trấu hiện ở mức 1.000 - 1.150 đồng/kg.
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động. Tại Cà Mau (Bạc Liêu cũ), nông dân chào bán lúa đều, giá lúa vững. Tại Đồng Tháp, nông dân chào bán giá lúa cao, thương lái hỏi mua lai rai, giao dịch mới chậm. Tại Tại Sóc Trăng (Cần Thơ mới), giao dịch mua bán mới ít, giá tương đối ổn định.
Tại An Giang, lúa thu hoạch có đều, nhu cầu mua bán chậm, giá vững. Tại Hậu Giang (Cần Thơ mới), nhu cầu mua mới ít, giá lúa ít biến động. Tại Tây Ninh mới (Long An cũ), giao dịch lúa mới khá, giá ít biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục đi ngang so với phiên giao dịch hôm qua. Cụ thể, lúa OM 5451 (tươi) dao động mức 5.900 - 6.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) hiện ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; OM 380 duy trì ở mức 5.700 - 5.900 đồng/kg.
Tại thị trường xuất khẩu
Dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy, giá gạo 5% tấm của Việt Nam duy trì ở mức 377 USD/tấn, cao hơn so với sản phẩm cùng loại có giá 374 USD/tấn của Thái Lan và mốc 375 USD/tấn của Ấn Độ. Tuy nhiên, thấp hơn so với mức giá 388 USD/tấn của Pakistan.
Theo Bangkokpost, ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, cảnh báo rằng mức thuế đối ứng 36% đối với gạo thơm của Thái Lan có thể gây tác động nghiêm trọng đến giá cả.
Hiện tại, giá gạo jasmine Thái Lan là 1.100 USD/tấn, nhưng nếu mức thuế này được áp dụng, giá sẽ tăng lên 1.496 USD/tấn.
Ông cho biết nếu các cuộc đàm phán thành công trong việc giảm thuế xuống còn 20%, thì giá gạo jasmine Thái Lan vẫn sẽ tăng lên 1.320 USD/tấn. Càng làm gia tăng khoảng cách giữa gạo thơm jasmine Thái Lan và Việt Nam.
Điều này có thể thúc đẩy các nhà nhập khẩu Mỹ chuyển sang mua gạo Việt Nam và có khả năng làm giảm thị phần của Thái Lan trên thị trường gạo thơm tại Mỹ.
Ông Chookiat cho biết thêm rằng nếu xuất khẩu giảm, giá gạo jasmine Thái Lan có thể giảm đáng kể. Tuy nhiên, việc tìm kiếm thị trường mới cũng là một thách thức do gạo Thái thường có giá cao hơn các đối thủ cạnh tranh.
Thị trường gạo jasmine toàn cầu vốn đã giới hạn ở một số khu vực nhất định, và việc mở rộng sang thị trường châu Âu lại càng khó khăn hơn.
Trong khi đó, Việt Nam đã giành được thị phần lớn tại các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Malaysia và Campuchia, với khối lượng xuất khẩu đang có xu hướng gia tăng.
“Cạnh tranh trên thị trường gạo jasmine đang rất khốc liệt, và các loại gạo khác cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt,” ông Chookiat nhận định.
Liên quan đến các biện pháp thích ứng, ông cho biết việc điều chỉnh là rất khó khăn do thương mại gạo hoạt động với biên lợi nhuận thấp, chủ yếu dựa vào sản lượng.
Sự hỗ trợ từ chính phủ dường như là điều khó xảy ra, ngoại trừ một số trợ giúp tối thiểu dành cho nông dân.
“Chúng tôi thực sự không biết phải làm gì vì tất cả đều đã cắt giảm chi phí đến mức tối đa và không còn gì để cắt giảm nữa. Việc làm gắn liền với khối lượng xuất khẩu, và khi xuất khẩu sụt giảm thì việc làm cũng bị đe dọa trực tiếp,” ông nói.
Ông Chookiat cho biết thêm, trong nửa đầu năm nay, Thái Lan chỉ xuất khẩu được 3,6 triệu tấn gạo, giảm tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, theo Hải quan Việt Nam, nước này đã xuất khẩu được 4,7 triệu tấn gạo trong cùng giai đoạn, tăng 3,6%.
“Chúng tôi dự báo tổng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan sẽ không đạt mục tiêu 7,5 triệu tấn. Hiệp hội sẽ xem xét lại mục tiêu này sau khi phân tích số liệu xuất khẩu của nửa cuối năm nay,” ông cho biết.
Năm ngoái, Thái Lan xuất khẩu sang Mỹ 830.000 tấn gạo, thị trường xuất khẩu lớn nhất của gạo jasmine Thái, bao gồm 630.000 tấn gạo jasmine Thái và 200.000 tấn gạo thơm Thái.
Mỗi năm, Thái Lan xuất khẩu khoảng 1,3 – 1,4 triệu tấn gạo jasmine Thái.
Thanh Phong