Giá nông sản hôm nay 18/8/2026 diễn biến trái chiều. Giá tiêu tiếp tục ổn định trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg. Giá cà phê Tây Nguyên tăng trở lại 300 - 400 đồng/kg, trong khi một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm 100 đồng/kg và giao dịch lúa mới vẫn khá chậm.
Giá tiêu hôm nay 18/8: Ổn định ở 136.000 - 139.000 đồng/kg
Thị trường hồ tiêu trong nước ngày 18/8 tiếp tục đi ngang, chưa ghi nhận điều chỉnh mới so với phiên trước. Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm duy trì trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Đắk Nông, thuộc tỉnh Lâm Đồng, tiếp tục là khu vực có giá tiêu cao nhất với 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng sau với mức 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, thuộc TP. Hồ Chí Minh, cùng duy trì mức 136.000 đồng/kg.
Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 3.000 đồng/kg. Sau những phiên biến động nhẹ trước đó, thị trường hồ tiêu nội địa đang trở lại trạng thái tương đối ổn định.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu cũng khá trầm lắng trong ngày đầu tuần. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.851 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 duy trì mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đứng ở 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động từ 5.990 - 6.050 USD/tấn, tương ứng với loại 500 g/l và 550 g/l. Tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.380 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt được chào bán ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu thế giới bước vào tuần mới với diễn biến tương đối ổn định. Triển vọng nguồn cung tại các quốc gia sản xuất lớn, đặc biệt là Brazil, tiếp tục là yếu tố đáng chú ý đối với xu hướng giá trong thời gian tới.
Giá cà phê hôm nay 18/8: Tăng trở lại 300 - 400 đồng/kg
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên ghi nhận tín hiệu tích cực trong ngày đầu tuần khi đồng loạt tăng 300 - 400 đồng/kg so với phiên trước. Mặt bằng giá thu mua theo đó lên mức 94.500 - 95.300 đồng/kg.
Đắk Nông, nay thuộc Lâm Đồng, ghi nhận mức tăng mạnh nhất 400 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 95.300 đồng/kg, cao nhất khu vực. Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 300 đồng/kg, đạt 95.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê tăng 300 đồng/kg, lên 94.500 đồng/kg, vẫn là mức thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Nhịp phục hồi diễn ra sau một tuần giảm mạnh của thị trường nội địa. Trong tuần trước, giá cà phê Tây Nguyên giảm tổng cộng 2.100 đồng/kg, có thời điểm xuống dưới 95.000 đồng/kg và chạm vùng thấp nhất trong khoảng ba tuần. Tuy nhiên, mức tăng trong phiên đầu tuần mới chỉ giúp thị trường lấy lại một phần mức giảm trước đó.
Trên thị trường thế giới, robusta vừa trải qua một tuần giao dịch tiêu cực. Hợp đồng giao tháng 9/2026 trên sàn London giảm 4,4%, tương đương 166 USD/tấn, xuống 3.621 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 173 USD/tấn, tương đương 4,6%, còn 3.594 USD/tấn.
Trong khi đó, arabica trên sàn New York có diễn biến tích cực hơn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 0,8%, tương đương 2,6 US cent/pound, lên 338,1 US cent/pound. Tuy nhiên, hợp đồng giao tháng 12/2026 vẫn giảm và kết thúc tuần ở mức 314,3 US cent/pound.
Áp lực đối với robusta diễn ra trong bối cảnh nguồn cung xuất khẩu từ Việt Nam và Brazil đều tăng. Theo số liệu trong dữ liệu nguồn, Việt Nam xuất khẩu 1,31 triệu tấn cà phê trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi kim ngạch giảm 11,2%, xuống khoảng 5,45 tỷ USD.
Giá lúa gạo hôm nay 18/8: Gạo nguyên liệu xuất khẩu đảo chiều giảm
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 18/8 nhìn chung ít biến động, song một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu đã đảo chiều giảm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 giảm 100 đồng/kg, dao động 9.850 - 9.900 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 cũng giảm 100 đồng/kg, về mức 9.900 - 10.000 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu OM 5451 duy trì trong khoảng 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm tăng 50 đồng/kg, lên 8.700 - 8.850 đồng/kg. Trong khi đó, giá cám giảm 50 đồng/kg, dao động 7.450 - 7.550 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ tại các chợ tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen duy trì mức cao nhất 28.000 đồng/kg, Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine được bán trong khoảng 16.500 - 17.500 đồng/kg, gạo Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường dao động 13.500 - 14.500 đồng/kg, gạo Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg, trong khi gạo OM 18 ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, lúa tươi IR 50404 hiện dao động 6.200 - 6.300 đồng/kg. OM 5451 giữ mức 6.700 - 6.800 đồng/kg. Lúa Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 6.800 - 7.000 đồng/kg, còn OM 34 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Tại các địa phương, nguồn lúa đang khá nhiều nhưng giao dịch mới diễn ra chậm. Tại An Giang, nhiều thương lái tạm ngưng mua khiến giá lúa tươi có xu hướng giảm nhẹ. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, hoạt động mua bán chậm và giá lúa tương đối ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đứng giá. Gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 500 - 505 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm dao động 370 - 374 USD/tấn và gạo Jasmine ở mức 538 - 542 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 360 - 364 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 292 - 296 USD/tấn.
 |
Tình trạng mua bán cho thuê hoặc làm giả mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đang trở thành vấn đề đáng lo ngại trong quản lý nông sản Không chỉ là hành vi gian lận đơn thuần thực trạng này còn có thể gây tổn hại trực tiếp đến hình ảnh nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế Trong bối cảnh đó yêu cầu tăng cường kiểm soát đi kèm cải cách thủ tục đang được đặt ra như một giải pháp kép
|
PV