07:40 01/09/2026

Giá nông sản hôm nay 1/9: Tiêu đi ngang, cà phê tăng, lúa gạo ít biến động

Giá nông sản hôm nay 1/9 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục ổn định ở mức 135.000 - 137.000 đồng/kg sau nhịp giảm mạnh cuối tháng 8. Trong khi đó, giá cà phê tại Tây Nguyên đồng loạt tăng 400 đồng/kg, còn thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục trầm lắng, giá chủ yếu đi ngang.

Giá tiêu hôm nay giữ ổn định

Thị trường hồ tiêu trong nước ngày 1/9 chưa ghi nhận biến động mới sau khi trải qua một tuần điều chỉnh giảm. Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm hiện dao động trong khoảng 135.000 - 137.000 đồng/kg.

Tại Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu tiếp tục ở mức cao nhất với 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với 136.500 đồng/kg.

Trong khi đó, giá tiêu tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP Hồ Chí Minh, cùng được ghi nhận ở mức 135.000 đồng/kg.

Mặt bằng giá hiện thấp hơn đáng kể so với vùng 136.000 - 138.500 đồng/kg được duy trì trong những ngày giữa tháng 8. Riêng trong các phiên cuối tuần trước, giá tiêu tại nhiều vùng trồng trọng điểm đã giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg, trong đó Đắk Nông giảm mạnh nhất 2.000 đồng/kg.

Giá nông sản hôm nay 19 Tiêu đi ngang cà phê tăng lúa gạo ít biến động

Bước sang tháng 9, thị trường tạm thời ổn định trở lại khi chưa xuất hiện yếu tố đủ mạnh để tạo ra một đợt biến động mới. Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 2.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các nguồn cung chủ lực cũng chưa ghi nhận thay đổi đáng kể.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.897 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ mức 5.800 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động 5.990 - 6.050 USD/tấn đối với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.443 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam duy trì 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia ở mức 12.200 USD/tấn.

Nhìn chung, thị trường hồ tiêu đang duy trì trạng thái tương đối ổn định sau nhịp giảm vào cuối tháng 8. Giá trong nước hiện vẫn chịu ảnh hưởng từ hoạt động giao dịch và cung - cầu ngắn hạn, trong khi giá xuất khẩu chưa có biến động tương ứng.

Giá cà phê hôm nay tăng đồng loạt

Trái ngược với hồ tiêu, thị trường cà phê trong nước bước vào tháng 9 với tín hiệu tích cực hơn. Giá cà phê tại các vùng sản xuất trọng điểm Tây Nguyên đồng loạt tăng 400 đồng/kg, đưa mặt bằng tham chiếu lên khoảng 95.000 - 95.700 đồng/kg.

Sau nhịp giảm mạnh vào cuối tháng 8, mức tăng đầu tháng 9 phần nào giúp thị trường cà phê nội địa ổn định trở lại. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với vùng giá từng áp sát 100.000 đồng/kg trong những phiên giữa tháng 8.

Giá nông sản hôm nay 19 Tiêu đi ngang cà phê tăng lúa gạo ít biến động

Trên thị trường thế giới, giá cà phê khép lại tuần cuối tháng 8 với xu hướng giảm ở cả hai sàn London và New York.

Tại London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 đóng cửa ở mức 3.492 USD/tấn, giảm 2,9%, tương đương 106 USD/tấn so với một tuần trước đó. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 2,5%, tương đương 89 USD/tấn, xuống 3.529 USD/tấn.

Trên sàn New York, arabica giao tháng 9/2026 giảm 3,6%, tương đương 12,9 US cent/pound, xuống 345,85 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 3%, tương đương 9,8 US cent/pound, còn 312,85 US cent/pound.

Diễn biến giá cà phê hiện chịu tác động từ những tín hiệu trái chiều về nguồn cung. Với robusta, tồn kho trên sàn ICE London đã tăng lên mức cao nhất trong khoảng 9 tháng, trong khi nguồn cung từ Việt Nam có dấu hiệu cải thiện, qua đó làm giảm lo ngại thiếu hụt trong ngắn hạn.

Trong khi đó, arabica vẫn nhận được lực đỡ từ nguồn cung đạt chuẩn khan hiếm. Tồn kho arabica được chứng nhận trên sàn ICE tính đến ngày 28/8 chỉ còn 223.976 bao, mức rất thấp so với lịch sử.

Sự đối lập giữa nguồn cung robusta đang cải thiện và lượng arabica đạt chuẩn ở mức thấp có thể tiếp tục khiến diễn biến giá giữa hai dòng cà phê phân hóa trong thời gian tới.

Giá lúa gạo hôm nay ít biến động

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 1/9 tiếp tục duy trì trạng thái trầm lắng. Giá lúa, gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ nhìn chung chưa có thay đổi đáng kể.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.900 - 8.950 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.

Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng được thu mua trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, giá dao động từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Tấm thơm hiện ở mức 8.600 - 8.700 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Giá nông sản hôm nay 19 Tiêu đi ngang cà phê tăng lúa gạo ít biến động

Tại các chợ lẻ, mặt bằng giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg, còn gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg.

Gạo thơm Jasmine hiện ở mức 16.500 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường được bán với giá 13.500 - 15.500 đồng/kg, gạo Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg và gạo OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động. Nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 34 dao động 5.900 - 6.000 đồng/kg. Lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng ở mức khoảng 6.600 - 6.700 đồng/kg. Giá lúa OM 5451 dao động 6.500 - 6.600 đồng/kg, còn IR 50404 ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg.

Tại các địa phương, hoạt động giao dịch khá vắng do kỳ nghỉ lễ. Ở An Giang, thương lái tạm ngưng mua, giá lúa tươi giữ ổn định. Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, giao dịch cũng thưa thớt, giá lúa nhìn chung bình ổn.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 373 - 377 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine ở mức 534 - 538 USD/tấn.

So với Việt Nam, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động 453 - 457 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 366 - 370 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm khoảng 364 - 368 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 304 - 308 USD/tấn.

Như vậy, bước vào tháng 9, thị trường nông sản trong nước tiếp tục phân hóa. Hồ tiêu tạm thời giữ giá sau nhịp giảm mạnh cuối tháng 8, cà phê có tín hiệu phục hồi nhẹ, trong khi thị trường lúa gạo vẫn trầm lắng và chưa xuất hiện động lực đủ mạnh để tạo biến động lớn.

PV