Ngày 17/12, thị trường thép trong nước tiếp tục giữ mặt bằng giá bán ổn định, không ghi nhận biến động mới so với những ngày trước. Trên thị trường quốc tế, giá thép giao dịch trên sàn tương lai Thượng Hải đi ngang, trong khi giá quặng sắt phục hồi nhẹ nhờ kỳ vọng các nhà máy thép Trung Quốc sẽ tăng cường bổ sung hàng tồn kho phục vụ mùa cao điểm lễ hội và Tết Nguyên đán.
Giá sắt thép thế giới
Trên thị trường quốc tế, giá thép cây giao dịch trên sàn tương lai Thượng Hải (SHFE) đối với hợp đồng giao tháng 8/2026 đang ở mức 3.093 Nhân dân tệ/tấn, gần như đi ngang so với phiên trước. Diễn biến này phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trong bối cảnh nhu cầu thép chưa có tín hiệu bứt phá rõ ràng trong ngắn hạn.
Trong khi đó, giá quặng sắt kỳ hạn đã có sự phục hồi nhẹ sau khi chạm mức thấp nhất trong vòng 5 tháng ở phiên giao dịch trước. Động lực tăng chủ yếu đến từ kỳ vọng các nhà máy thép tại Trung Quốc – quốc gia tiêu thụ thép và quặng sắt lớn nhất thế giới – sẽ đẩy mạnh nhập hàng để chuẩn bị cho kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thời điểm hoạt động vận chuyển thường chậm lại.
Cụ thể, hợp đồng quặng sắt được giao dịch nhiều nhất trên sàn Hàng hóa Đại Liên (DCE) tăng 0,66%, lên mức 758 Nhân dân tệ/tấn, tương đương khoảng 107,63 USD/tấn, sau khi giảm gần 1% trong phiên trước đó. Trên sàn Singapore, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 tăng 0,41%, lên 101,95 USD/tấn, quay trở lại trên ngưỡng tâm lý quan trọng 100 USD/tấn.
Theo giới phân tích, việc các nhà sản xuất thép Trung Quốc thường đặt hàng trước cho giai đoạn nghỉ lễ đã tạo lực đỡ cho giá quặng sắt trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, sự khan hiếm tương đối của một số loại quặng trung bình, cùng với lệnh cấm xuất khẩu hai loại quặng từ tập đoàn khai khoáng BHP, cũng góp phần hỗ trợ giá và các chỉ số hợp đồng tương lai liên quan.
Tuy vậy, đà phục hồi của giá quặng sắt vẫn chịu nhiều lực cản. Dữ liệu từ công ty tư vấn Mysteel cho thấy lượng hàng xuất khẩu từ các nhà cung cấp lớn như Australia và Brazil đã tăng 11,7% so với tuần trước, đạt khoảng 29,67 triệu tấn tính đến ngày 14/12. Nguồn cung gia tăng, trong khi nhu cầu thép có dấu hiệu suy yếu trong quý IV, tiếp tục tạo áp lực lên thị trường nguyên liệu.
Đối với các nguyên liệu đầu vào khác của ngành thép, diễn biến cũng khá trái chiều. Giá than cốc giảm 0,62%, trong khi than luyện cốc tăng nhẹ 0,27%. Trên sàn tương lai Thượng Hải, giá thép chuẩn nhìn chung đi ngang, với thép thanh cốt thép tăng 0,23%, thép cuộn cán nóng nhích lên 0,28%, trong khi thép dây giảm 0,39% và thép không gỉ giảm mạnh hơn, ở mức 1,67%.
Giá thép trong nước
Tại khu vực miền Bắc, theo dữ liệu từ SteelOnline.vn, giá thép của các thương hiệu lớn vẫn duy trì ở mức quen thuộc. Thép Hòa Phát với dòng thép cuộn CB240 đang được bán ở mức 13.500 đồng/kg, còn thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.090 đồng/kg. Thép Việt Ý niêm yết giá thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 12.880 đồng/kg. Thép Việt Đức hiện giao dịch thép cuộn CB240 quanh 13.350 đồng/kg, trong khi thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.850 đồng/kg. Các thương hiệu khác như Việt Sing và VAS cũng giữ giá ổn định, với thép cuộn CB240 dao động trong khoảng 13.330 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 phổ biến từ 12.730 – 12.930 đồng/kg.
Tại miền Trung, giá thép nhìn chung không có sự thay đổi đáng kể. Thép Hòa Phát tiếp tục bán thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg, trong khi thép thanh vằn D10 CB300 dao động quanh 13.090 đồng/kg. Thép Việt Đức ghi nhận giá thép cuộn CB240 ở mức 13.650 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 khoảng 13.050 đồng/kg. Với thép VAS, thép cuộn CB240 được giao dịch ở mức 13.430 đồng/kg, còn thép thanh vằn D10 CB300 giữ quanh 12.830 đồng/kg.
Ở thị trường miền Nam, các doanh nghiệp thép lớn tiếp tục duy trì chính sách giá ổn định. Thép Hòa Phát bán thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.090 đồng/kg. Thép VAS tại khu vực này ghi nhận giá thép cuộn CB240 ở mức 13.130 đồng/kg, trong khi thép thanh vằn D10 CB300 giữ ở mức 12.730 đồng/kg.
Trung Anh (t/h)