Giá Thép cây trên sàn giao dịch Thượng Hải (SHFE) giao tháng 7/2026 giảm 7 Nhân dân tệ, xuống mức 3.140 Nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, giá quặng sắt kỳ hạn tiếp tục tăng do kỳ vọng về các biện pháp kích thích kinh tế mới và dữ liệu tiêu thụ thép tích cực từ Trung Quốc.
Giá thép trên sàn giao dịch
Thép cây trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE) giao tháng 7/2026 giảm 7 Nhân dân tệ, xuống mức 3.140 Nhân dân tệ/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn tiếp tục tăng, do kỳ vọng về các biện pháp kích thích kinh tế mới và dữ liệu tiêu thụ thép tích cực từ Trung Quốc, quốc gia sản xuất và tiêu thụ thép hàng đầu thế giới.
Trên sàn giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2026, loại được giao dịch nhiều nhất tăng 0,39%, đạt 777 Nhân dân tệ/tấn (tương đương 109,08 USD/tấn). Trong khi đó, giá quặng sắt chuẩn tháng 11 trên sàn giao dịch Singapore cũng tăng 0,45%, lên 104,65 USD/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn đã tăng trong phiên giao dịch ngày thứ Năm, đánh dấu chuỗi ba phiên tăng liên tiếp, được hỗ trợ bởi kỳ vọng về các biện pháp kích thích kinh tế và dữ liệu thép tích cực từ Trung Quốc, theo Reuters.
Cuộc họp kín kéo dài bốn ngày của ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, bắt đầu từ thứ Hai, dự kiến sẽ công bố định hướng chính sách cho kế hoạch 5 năm tiếp theo. Giới đầu tư kỳ vọng Trung Quốc có thể công bố thêm các gói hỗ trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố niềm tin tiêu dùng, trong bối cảnh nhiều dữ liệu kinh tế ảm đạm và căng thẳng thương mại với Mỹ vẫn chưa hạ nhiệt.
Phó Thủ tướng Trung Quốc Hà Lập Phong (He Lifeng) dự kiến sẽ có các cuộc đàm phán thương mại với phía Mỹ tại Malaysia từ ngày 24 – 27/10.
Trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 1 kết phiên tăng 0,39%, đạt 777 nhân dân tệ (tương đương 109,08 USD) mỗi tấn. Trong khi đó, hợp đồng quặng sắt giao tháng 11 trên Sàn Singapore tăng 0,45%, lên 104,65 USD/tấn.
Theo nhận định của một số nhà giao dịch và chuyên gia phân tích, dữ liệu thép khả quan hơn dự kiến, cho thấy nhu cầu quặng sắt vẫn vững trong ngắn hạn, đã góp phần hỗ trợ giá. Cụ thể, tổng tồn kho một số sản phẩm thép chính giảm 1,7% trong tuần tính đến ngày 23/10, trong khi sản lượng thép tăng 1%, theo số liệu từ hãng tư vấn Mysteel.
Tuy nhiên, triển vọng cơ bản yếu đi trong quý IV do nguồn cung dồi dào và nhu cầu có dấu hiệu chững lại vẫn khiến đà tăng giá của nguyên liệu sản xuất thép này bị hạn chế.
Tập đoàn khai khoáng Fortescue (Australia) cho biết sản lượng quặng sắt xuất khẩu quý I của họ tăng 4,2% so với quý trước. Trong khi đó, công ty Vale (Brazil) báo cáo sản lượng quặng sắt quý gần nhất đạt mức cao nhất kể từ năm 2018.
Các nguyên liệu luyện thép khác như than cốc và than mỡ luyện cốc cũng tăng mạnh, lần lượt 5,14% và 4,21%, lên mức cao nhất trong hơn hai tháng. Nguyên nhân được cho là do lo ngại nguồn cung trong nước bị hạn chế.
Trong một diễn biến khác, Bộ Tài chính Canada đã cấp miễn trừ thuế cho một số sản phẩm thép và nhôm có xuất xứ từ Trung Quốc, trong một sửa đổi nhằm hủy bỏ các khoản thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu Trung Quốc từ năm 2024. Thông tin chi tiết sẽ được công bố vào ngày 5/11/2025.
Bộ cũng mở rộng miễn trừ thuế đối với các sản phẩm thép và nhôm của Mỹ, bao gồm các lĩnh vực y tế, an ninh quốc gia, sản xuất, nông nghiệp và bao bì thực phẩm. Bộ trưởng Tài chính Canada cho biết, các sản phẩm này là hàng hóa thiết yếu cho chuỗi cung ứng trong nước và việc miễn trừ sẽ không ảnh hưởng đến tổng mức thuế đối kháng mà Canada đang thu.
Tuy nhiên, Hiệp hội các nhà sản xuất thép Canada (CSPA) bày tỏ lo ngại về quyết định gia hạn miễn thuế cho các nhà sản xuất Mỹ thêm hai tháng, cho rằng ngành thép Canada vẫn đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Mỹ.
Giá thép trong nước
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Thương Trường, giá thép hôm nay (25/10) cập nhật từ SteelOnline.vn cho thấy thị trường đang ổn định, hiện giá thép dao động từ 12.520 - 13.640 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Tại miền Bắc, giá thép Việt Đức ghi nhận ở mức 13.350 đồng/kg với thép cuộn CB240 và 12.850 đồng/kg với thép thanh vằn D10 CB300. Thép Hòa Phát duy trì mức giá 13.500 đồng/kg cho thép cuộn và 13.090 đồng/kg cho thép thanh vằn. Thép Việt Ý có giá cao nhất trong nhóm, đạt 13.640 đồng/kg cho CB240 và 12.880 đồng/kg cho D10 CB300.
Ở khu vực miền Trung, giá thép cũng ổn định. Thép Hòa Phát và Việt Đức có mức giá quanh 13.500 – 13.650 đồng/kg cho thép cuộn, trong khi thép VAS và Việt Nhật dao động nhẹ trong vùng 12.830 – 13.050 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá thép Hòa Phát vẫn giữ vững ở mức 13.500 đồng/kg, tương tự khu vực miền Bắc. Thép VAS giao dịch quanh mức 13.130 đồng/kg cho CB240 và 12.730 đồng/kg cho D10 CB300, trong khi thép TungHo duy trì giá thấp nhất, chỉ từ 12.520 đồng/kg.
PV