Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát triển bền vững rất lớn, yêu cầu đặt ra là cần tăng cường, vận động mọi nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia, nhất là từ thị trường vốn trái phiếu xanh, tín dụng xanh, thị trường carbon, khu vực tư nhân và các nguồn huy động quốc tế bên cạnh ngân sách nhà nước.
Cần nguồn vốn “khủng”
Chính phủ đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt tối thiểu 8% trong năm 2025 và hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030. Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030 được đặt ra với yêu cầu rất cao vì vậy tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần được mở rộng mạnh mẽ, đi kèm với sự thay đổi căn bản trong tư duy, hành động và cách thức phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nhu cầu nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia, phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 là rất lớn. Theo kịch bản trung hòa các bon, tính đến năm 2050 tổng nhu cầu đầu tư dài hạn cho phát triển kinh tế xanh, kinh tế bền vững vào khoảng từ 670 - 700 tỷ USD, trong đó nhu cầu cho thích ứng với biến đổi khí hậu khoảng 368 tỷ USD (chiếm khoảng 6,8% GDP/năm).
Nhu cầu vốn cho nền kinh tế giai đoạn 2026–2030 được dự báo tăng gấp đôi so với 5 năm trước, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp.
Điều này đòi hỏi cần tăng cường, vận động mọi nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia, đặc biệt là từ thị trường vốn trái phiếu xanh, tín dụng xanh, thị trường các-bon và các nguồn huy động quốc tế bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách nhà nước.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, ngành ngân hàng Việt Nam xác định rõ vai trò là một trong những kênh huy động vốn quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững.
Thời gian qua NHNN đã không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế chính sách, triển khai đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy hoạt động tín dụng xanh; nhận diện, đánh giá và quản lý rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; qua đó nâng cao trách nhiệm của hệ thống ngân hàng đóng góp và đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng xanh chung của đất nước.
Về phía các TCTD, các ngân hàng đã tích cực, chủ động nghiên cứu phát triển các sản phẩm huy động vốn xanh, tín dụng xanh để tài trợ vốn cho các dự án mang lại lợi ích môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, các mô hình sản xuất tuần hoàn, liên kết bền vững. Theo đó, kết quả hoạt động tín dụng xanh không ngừng được mở rộng cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng trong những năm vừa qua.
Dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống tăng trưởng nhanh, theo đó tính đến 30/11, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, mức tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến nay đạt hơn 21%/năm, phản ánh sự chuyển dịch rõ nét của dòng vốn vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch, lâm nghiệp bền vững và các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, bản chất của tín dụng ngân hàng vẫn là vốn ngắn và trung hạn, chịu ràng buộc chặt chẽ bởi yêu cầu an toàn hệ thống. Trong khi, các dự án xanh, chuyển đổi năng lượng hay hạ tầng bền vững lại đòi hỏi vốn dài hạn, chi phí thấp và thời gian hoàn vốn kéo dài. Nếu dồn quá nhiều áp lực cho hệ thống ngân hàng, rủi ro mất cân đối và gia tăng gánh nặng tài chính là điều khó tránh khỏi.
Do đó cần phải đa dạng hóa nguồn lực tài chính, đòi hỏi sự tham gia của các kênh vốn trong và ngoài nước, đặc biệt từ khu vực tư nhân và thị trường vốn (ở đây là thị trường chứng khoán), hợp lực cùng hệ thống ngân hàng để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của đất nước.
Việc mở rộng các kênh vốn đầu tư tài chính xanh từ nhiều khu vực, thị trường không chỉ góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng mà quan trọng nhất còn tạo điều kiện huy động nguồn vốn trung - dài hạn linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn cho mục tiêu chung của quốc gia, phù hợp với xu hướng tài chính xanh toàn cầu.
Đa dạng hóa nguồn vốn
Trước yêu cầu nguồn lực rất lớn này các chuyên gia kinh tế cho rằng, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính giữ vai trò then chốt trong việc cấp vốn cho tăng trưởng, song điều quan trọng hơn là Việt Nam cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Trên thực tế, định hướng này đã được triển khai, nhưng trong chặng đường phía trước, Việt Nam cần khai thác mạnh mẽ và hiệu quả hơn tiềm năng của thị trường vốn quốc tế để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn.
Đa dạng hóa nguồn vốn không chỉ là mở thêm kênh huy động, mà là yêu cầu tái cấu trúc toàn diện hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa ngân hàng, thị trường vốn, khu vực tư nhân và nguồn lực quốc tế.
Ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết: Năm 2025 là thời điểm bước ngoặt nhờ những thay đổi đột phá về hành lang pháp lý. Trong đó, Nghị định 156/2025/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 55) có hiệu lực từ 1/7 là một "cú hích" lịch sử khi cho phép các tổ chức tín dụng cho vay không có tài sản bảo đảm lên tới 70% giá trị dự án đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoặc kinh tế tuần hoàn.
"Chính sách này giúp ngân hàng chuyển tư duy từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả dự án xanh. Đây là cơ hội vàng để các doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận vốn cho các nhu cầu cấp thiết như chuyển đổi số, đáp ứng tiêu chuẩn ESG để xuất khẩu sang EU, Mỹ, Nhật Bản…", ông Quý chia sẻ.
Tuy nhiên, để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, Agribank cũng kiến nghị Chính phủ cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, chuẩn hóa quy định đo lường khí nhà kính để ngân hàng có cơ sở đánh giá rủi ro chính xác hơn.
Ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng trong khi thị trường ngân hàng phát triển mạnh thì thị trường trái phiéu doanh nghiệp tương đối khiêm tốn. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp hiện nay chỉ vào khoảng 10% GDP, cho thấy vẫn còn không gian rất lớn để phát triển.
“Nếu doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường trái phiếu để huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, thì áp lực lên hệ thống ngân hàng sẽ được giảm bớt. Khi đó, ngân hàng có thể tập trung nhiều hơn vào các khoản tín dụng ngắn và trung hạn, phù hợp hơn với đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng”, ông Nguyễn Bá Hùng khuyến nghị.
Ngoài ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia huy động thành công nguồn lực cho phát triển bền vững đều dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư nhân. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, hoàn thiện thể chế, chia sẻ rủi ro ban đầu; khu vực tư nhân và thị trường vốn trở thành động lực chính cung cấp nguồn lực dài hạn.
Các mô hình tài chính kết hợp (blended finance), huy động vốn thông qua trái phiếu xanh, quỹ đầu tư ESG hay kết nối với thị trường vốn quốc tế đang ngày càng phổ biến. Khi môi trường đầu tư minh bạch, chi phí vốn hợp lý và rủi ro được kiểm soát, dòng vốn tư nhân sẽ được khơi thông mạnh mẽ, giảm áp lực cho ngân sách và hệ thống ngân hàng.
Nguyễn Hà