Tín dụng tại Đông Nam Bộ đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 9/2026, chiếm gần 35% dư nợ toàn quốc. Ngành Ngân hàng đang thúc đẩy tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng, đa dạng hóa nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng cho khu vực giai đoạn 2026–2030.
Tín dụng Đông Nam Bộ đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng
Thông tin từ Hội nghị “Ngành Ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực Tài chính – Ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026–2030”, đến cuối tháng 9/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7% so với cuối năm 2025. Riêng khu vực Đông Nam Bộ, dư nợ tín dụng ước đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng, chiếm gần 35% tổng dư nợ toàn quốc, tăng 10,93% so với cuối năm trước.
Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn
Những con số này cho thấy vai trò quan trọng của Đông Nam Bộ trong hoạt động tín dụng và phân bổ nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Đây là khu vực tập trung nhiều trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics và các dự án hạ tầng có quy mô lớn, đồng thời có nhu cầu vốn cao để mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Theo Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn, năm 2026 mở đầu kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, tỷ giá và lãi suất quốc tế diễn biến khó lường. Ngành Ngân hàng phải thực hiện đồng thời nhiều mục tiêu, từ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống đến hỗ trợ tăng trưởng.
Với Đông Nam Bộ, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi khu vực tiếp tục được xác định là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất cả nước, hướng tới phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp số và logistics quốc tế.
Theo thông tin tại hội nghị, vùng đóng góp 31,4% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong năm 2026. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% đến 10,04% trong năm, các địa phương cần chủ động xác định nhu cầu vốn, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
NHNN cho biết đã triển khai các giải pháp điều hành tín dụng từ đầu năm, trong đó có việc thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 ngay từ cuối năm 2025, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, đơn giản hóa quy trình cấp tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số và duy trì ổn định mặt bằng lãi suất huy động, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay.
Tháo gỡ điểm nghẽn, đa dạng hóa nguồn vốn
Một trong những nội dung đáng chú ý tại hội nghị là cơ chế hỗ trợ tín dụng đối với các công trình, dự án quy mô lớn, có tính liên kết và khả năng lan tỏa. Theo NHNN, cơ quan này đã có cơ chế loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng thương mại tham gia tài trợ 35 công trình, dự án trọng điểm trên cả nước.
Tổng nhu cầu vốn vay của các dự án này khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Trong đó, 15 dự án thuộc khu vực Đông Nam Bộ có nhu cầu vốn vay khoảng 757.000 tỷ đồng. Đây là quy mô vốn lớn, phản ánh yêu cầu huy động nguồn lực đáng kể để triển khai các dự án hạ tầng và phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, khả năng cung ứng vốn không chỉ phụ thuộc vào hạn mức tín dụng của ngân hàng. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận vốn do năng lực tài chính hạn chế, vốn chủ sở hữu thấp, báo cáo tài chính chưa minh bạch hoặc thiếu tài sản bảo đảm. Những vướng mắc về thủ tục đầu tư, pháp lý đất đai và giải phóng mặt bằng cũng có thể làm chậm tiến độ triển khai dự án, ảnh hưởng đến khả năng giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn.
Vì vậy, việc khơi thông dòng vốn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp. Các địa phương cần công khai, cập nhật danh mục dự án trọng điểm, xác định rõ quy mô đầu tư, tiến độ thực hiện, nhu cầu và cơ cấu nguồn vốn để ngân hàng có cơ sở đánh giá, thẩm định và xây dựng phương án tài trợ phù hợp.
Về phía doanh nghiệp, việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý, minh bạch thông tin tài chính, nâng cao năng lực quản trị và quản lý dòng tiền là những điều kiện quan trọng để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng. Các hiệp hội doanh nghiệp cũng cần tổng hợp cụ thể những khó khăn, vướng mắc, gắn kiến nghị với nhu cầu vốn thực tế để hỗ trợ quá trình tháo gỡ.
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, đa dạng hóa các kênh huy động vốn cũng là yêu cầu cần thiết. Đối với các dự án hạ tầng có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn dài, việc phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư hạ tầng, huy động vốn quốc tế và thúc đẩy hợp tác công – tư có thể góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, đồng thời bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Trong khuôn khổ hội nghị, các ngân hàng và doanh nghiệp đã trao 18 thỏa thuận hợp tác liên quan đến những dự án, phương án kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, năng lượng, hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và nhà ở xã hội. Đây là bước kết nối cụ thể giữa nhu cầu vốn của doanh nghiệp với khả năng tài trợ của các tổ chức tín dụng.
Về định hướng thời gian tới, NHNN cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và lãi suất phù hợp; hoàn thiện cơ chế tín dụng, phát triển các chương trình và sản phẩm cho vay với điều kiện, lãi suất phù hợp nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, các cơ quan chức năng và địa phương cần đẩy nhanh xử lý vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai và giải phóng mặt bằng để nâng cao khả năng triển khai dự án.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho Đông Nam Bộ không chỉ là bài toán mở rộng tín dụng, mà còn là yêu cầu nâng cao chất lượng phân bổ và sử dụng vốn. Khi các điểm nghẽn về thể chế, pháp lý và năng lực tiếp cận vốn được tháo gỡ, dòng tiền có thể đến đúng dự án, đúng nhu cầu và tạo hiệu quả kinh tế cao hơn. Đây sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để khu vực phát huy vai trò đầu tàu, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026–2030.
Phượng Hòa