11:59 21/08/2026

Làm sạch mã số thuế, sàng lọc doanh nghiệp “ma”

Theo đánh giá của cơ quan thuế, việc làm sạch dữ liệu mã số thuế không chỉ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, ngăn chặn hành vi lợi dụng pháp nhân doanh nghiệp để gian lận hóa đơn, trốn thuế hoặc trục lợi ngân sách nhà nước.

Làm sạch mã số thuế sàng lọc doanh nghiệp “ma”
 Cục Thuế vừa ban hành quyết định về "Chiến dịch Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh"

Cục Thuế vừa ban hành Quyết định số 595/QĐ-CT, triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” trên toàn quốc trong năm 2026. Chiến dịch được thực hiện từ Cục Thuế đến các đơn vị cơ sở, với sự phối hợp của cơ quan đăng ký kinh doanh, công an, hải quan, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan.

Trọng tâm là chuẩn hóa dữ liệu, xử lý các trường hợp người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.

Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Thương Trường đã trao đổi với luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TGS.

PV: Thưa ông, Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” được triển khai trên toàn quốc, nhằm xử lý hồ sơ tồn đọng, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế và bảo vệ quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Theo ông, giá trị lớn nhất và tác động dài hạn của chiến dịch là gì?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở việc xử lý hồ sơ tồn đọng hay cập nhật thông tin người nộp thuế, mà sâu xa hơn là tạo dựng nền tảng dữ liệu chính xác, thống nhất và minh bạch cho quá trình hiện đại hóa quản lý thuế.

Trong quản lý hiện đại, dữ liệu là “hạ tầng mềm” của toàn hệ thống. Thông tin trùng lặp, thiếu cập nhật hoặc không đồng bộ không chỉ gây khó cho cơ quan thuế mà còn khiến người dân, doanh nghiệp phát sinh thủ tục không cần thiết, thậm chí gặp rủi ro pháp lý dù không có lỗi.

Vì vậy, chuẩn hóa mã số thuế cần được nhìn nhận như một bước tái cấu trúc dữ liệu quản lý, không phải chiến dịch hành chính ngắn hạn. Nếu được thực hiện đồng bộ và duy trì thường xuyên, đây sẽ là nền tảng xây dựng hệ sinh thái quản lý thuế số, kết nối cơ quan thuế với đăng ký kinh doanh, hóa đơn điện tử, ngân hàng và các cơ sở dữ liệu liên quan. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là quản lý tốt hơn mà còn tạo thuận lợi cho người nộp thuế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Làm sạch mã số thuế sàng lọc doanh nghiệp “ma”
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TGS

PV: Chiến dịch vừa hỗ trợ người nộp thuế có thiện chí hoàn thiện thủ tục, vừa rà soát những trường hợp có rủi ro về pháp nhân, hóa đơn và nghĩa vụ thuế. Cách tiếp cận này có ý nghĩa như thế nào trong việc cân bằng giữa tạo thuận lợi kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản lý?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Quản lý thuế không chỉ nhằm kiểm soát mà còn phải tạo thuận lợi cho kinh doanh. Hỗ trợ người nộp thuế có thiện chí sẽ giúp họ sớm hoàn thiện thủ tục, giảm chi phí và rủi ro tuân thủ. Trong khi đó, phân loại các trường hợp có dấu hiệu rủi ro giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực đúng đối tượng, ngăn ngừa gian lận và thất thu.

Cách làm này truyền đi thông điệp rõ ràng: doanh nghiệp tuân thủ được tạo thuận lợi, còn hành vi lợi dụng chính sách để trục lợi phải bị kiểm soát, xử lý. Đây là nền tảng để xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và khuyến khích doanh nghiệp chủ động tuân thủ pháp luật.

PV: Cục Thuế vừa yêu cầu các đơn vị địa phương công khai quy trình, hồ sơ, thời hạn giải quyết; hạn chế người nộp thuế phải đi lại, bổ sung nhiều lần; đồng thời tăng kiểm tra và trách nhiệm người đứng đầu. Theo ông, cần giải pháp gì để chuẩn hóa chất lượng phục vụ trên toàn hệ thống?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Đây là yêu cầu cần thiết bởi chính sách chỉ có giá trị khi được thực thi thống nhất, minh bạch và có thể dự đoán. Nếu cùng một quy định nhưng mỗi nơi, thậm chí mỗi cán bộ, lại hiểu và yêu cầu khác nhau thì chính sự thiếu thống nhất sẽ trở thành một “điểm nghẽn” mới.

Trước hết, cần áp dụng thống nhất bộ tiêu chuẩn phục vụ người nộp thuế, quy định rõ thành phần hồ sơ, cách hướng dẫn, thời hạn xử lý và trách nhiệm từng khâu. Toàn bộ quá trình xử lý phải được số hóa, giúp người nộp thuế theo dõi trạng thái, biết rõ lý do phải bổ sung và hạn chế đi lại. Dữ liệu này cũng có thể giúp phát hiện đơn vị có tỷ lệ trễ hạn hoặc yêu cầu bổ sung bất thường.

Bên cạnh đó, cần gắn trách nhiệm của cán bộ và người đứng đầu với chất lượng phục vụ, đồng thời có cơ chế tiếp nhận, phản hồi, xử lý độc lập các kiến nghị. Hiệu quả chiến dịch không nên chỉ tính bằng số hồ sơ đã giải quyết mà phải đo bằng thời gian, chi phí tuân thủ được cắt giảm và mức độ tháo gỡ thực tế cho người nộp thuế.

PV: Sau giai đoạn xử lý hồ sơ tồn đọng, ngành Thuế cần ưu tiên những giải pháp nào để duy trì dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, ngăn phát sinh điểm nghẽn mới và tiếp tục giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Điều quan trọng là không để dữ liệu lại “bẩn” sau chiến dịch. Ngành Thuế cần chuyển từ rà soát theo đợt sang cập nhật và kiểm soát thường xuyên, tập trung vào ba việc: duy trì dữ liệu chính xác, phát hiện sớm rủi ro và giảm chi phí tuân thủ.

Trước hết, phải kết nối, đối soát thường xuyên dữ liệu thuế với đăng ký kinh doanh, công an, hải quan và các cơ quan liên quan để mọi thay đổi về pháp nhân, người đại diện, tình trạng hoạt động, hóa đơn và nghĩa vụ thuế được cập nhật kịp thời.

Thứ hai, cần đẩy mạnh quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, ứng dụng công nghệ để phát hiện dấu hiệu bất thường ngay từ đầu. Thứ ba, lấy thời gian và chi phí tuân thủ làm thước đo; thông tin Nhà nước đã có thì không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại, tiến tới nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”.

PV: Việc làm sạch mã số thuế nhằm xác định chính xác tình trạng của người nộp thuế, hạn chế doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục hoặc có thông tin pháp nhân không còn phù hợp. Dữ liệu được chuẩn hóa có thể trở thành một “lớp lọc” trong phòng, chống gian lận thuế và hóa đơn hay không?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Hoàn toàn có thể, bởi muốn phát hiện gian lận, trước hết phải xác định đúng chủ thể và tình trạng pháp lý thực tế của họ.

Khi dữ liệu về doanh nghiệp, người đại diện, địa chỉ, tình trạng hoạt động và hóa đơn được cập nhật, đối chiếu thường xuyên, cơ quan thuế sẽ dễ nhận diện các dấu hiệu bất thường như doanh nghiệp không hoạt động thực tế nhưng vẫn phát sinh giao dịch, sử dụng hóa đơn bất thường hoặc liên tục thay đổi pháp nhân, người đại diện. Đây là cơ sở để khoanh vùng rủi ro, ngăn việc lợi dụng pháp nhân để mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc hợp thức hóa giao dịch không có thật.

Tuy nhiên, làm sạch dữ liệu mới là bước đầu. Giá trị thực sự nằm ở khả năng dùng dữ liệu để chuyển từ “phát hiện rồi xử lý” sang “nhận diện sớm - cảnh báo sớm - ngăn chặn sớm”. Khi đó, mã số thuế sẽ trở thành điểm nhận diện đáng tin cậy của chủ thể kinh doanh, góp phần bảo vệ doanh nghiệp tuân thủ, chống thất thu và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

PV: Đâu là những khó khăn lớn nhất trong việc liên thông dữ liệu giữa cơ quan Thuế với đăng ký kinh doanh, công an, hải quan, bảo hiểm và các cơ quan liên quan? Cần cơ chế phối hợp như thế nào để hạn chế tình trạng “mỗi nơi một dữ liệu”?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Khó khăn không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở sự khác biệt về chuẩn dữ liệu, quy trình cập nhật, trách nhiệm quản lý và cơ chế chia sẻ. Mỗi hệ thống thu thập, cập nhật và xác định trạng thái theo một cách khác nhau sẽ dẫn đến tình trạng cùng một chủ thể nhưng thông tin không thống nhất.

Cần xây dựng cơ chế liên thông chung, xác định rõ dữ liệu nào là dữ liệu gốc, cơ quan nào chịu trách nhiệm, thời điểm cập nhật, cách đối soát và trách nhiệm khi thông tin sai hoặc chậm. Nguyên tắc nên là “một nguồn dữ liệu chuẩn - nhiều cơ quan cùng khai thác”, thay vì mỗi nơi duy trì một phiên bản riêng.

Các hệ thống cũng cần được kết nối tự động để mọi thay đổi về đăng ký kinh doanh, tình trạng hoạt động, người đại diện, bảo hiểm hay hải quan được cập nhật, cảnh báo kịp thời. Quan trọng hơn, phải chuyển từ chia sẻ khi có yêu cầu sang chia sẻ thường xuyên, có kiểm soát và có trách nhiệm.

PV: Theo ông, ngành Thuế cần đặt ra những tiêu chí nào để đo lường hiệu quả thực chất của chiến dịch? Có nên coi mức giảm thời gian, số lần đi lại, bổ sung hồ sơ và chi phí tuân thủ là những thước đo quan trọng bên cạnh số hồ sơ được xử lý?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Hoàn toàn nên coi đó là những thước đo quan trọng. Số hồ sơ “đã làm sạch” chỉ phản ánh kết quả hành chính, chưa cho thấy chiến dịch có thực sự tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp hay không.

Các chỉ tiêu cần theo dõi gồm thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và đúng ngay từ đầu, số lần người nộp thuế phải đi lại hoặc bổ sung hồ sơ, mức giảm chi phí tuân thủ, sự hài lòng và số lượng phản ánh, kiến nghị.

Cần có số liệu trước và sau chiến dịch để so sánh, tránh chỉ đánh giá bằng số tuyệt đối. Số hồ sơ phản ánh khối lượng công việc; thời gian, chi phí và mức độ thuận lợi mới thể hiện chất lượng. Chỉ khi các chỉ số này được cải thiện và duy trì, chiến dịch mới tạo ra hiệu quả thực chất, bền vững.

PV: Xa hơn, ông kỳ vọng chiến dịch sẽ mở đường như thế nào cho một mô hình quản lý thuế hiện đại, trong đó dữ liệu vừa phục vụ quản lý, chống thất thu, vừa hỗ trợ doanh nghiệp và cải thiện môi trường kinh doanh?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Sau chiến dịch, ngành Thuế cần chuyển từ “làm sạch theo đợt” sang “làm sạch thường xuyên”, thiết lập cơ chế tự động cập nhật, đối soát và cảnh báo sai lệch ngay khi phát sinh. Đồng thời, phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm về từng nguồn dữ liệu và thời hạn cập nhật, tránh tình trạng có sai sót nhưng không rõ trách nhiệm xử lý.

Xa hơn, chiến dịch có thể tạo nền tảng để chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro. Dữ liệu không chỉ dùng để xác định đối tượng, chống thất thu hay phát hiện gian lận mà còn phải hỗ trợ doanh nghiệp thông qua tự động nhắc nghĩa vụ thuế, cảnh báo rủi ro, đơn giản hóa thủ tục và hạn chế yêu cầu cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có.

Mục tiêu của chuyển đổi số không phải là quản lý doanh nghiệp nhiều hơn mà là quản lý chính xác hơn, hỗ trợ tốt hơn và tạo thuận lợi hơn. Doanh nghiệp tuân thủ sẽ giảm được thời gian, chi phí; cơ quan thuế có thể tập trung nguồn lực vào những rủi ro thực sự. Đó là nền tảng của môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và có khả năng dự báo.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Anh Đào (Thực hiện)