07:43 26/01/2021

Những vấn đề bất cập hành lang pháp lý về kinh doanh đa cấp

Tiêu điểm

Nghị định số 40/2018/NĐ-CP đã được áp dụng gần 2 năm, qua đó, Bộ Công Thương đã xác định được 5 vấn đề bất cập và đang chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung.

Tại Việt Nam, kinh doanh theo phương thức đa cấp xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ 20. Để hoà nhập với xu hướng chung của thế giới cũng như đáp ứng tình hình thực tế, hành lang pháp lý về kinh doanh theo phương thức đa cấp đã dần được hoàn thiện. Ngày 2/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP với nhiều quy định quản lý chặt chẽ đối với hình thức kinh doanh này.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, hoạt động bán hàng đa cấp đã “cơ bản được quản lý tốt, số lượng vụ việc vi phạm vẫn còn nhưng đã giảm và không còn nhiều trường hợp vi phạm nghiêm trọng xảy ra như những năm trước đây”. 

Những vấn đề bất cập hành lang pháp lý về kinh doanh đa cấp
Những vấn đề bất cập hành lang pháp lý về kinh doanh đa cấp

Tuy nhiên, qua đánh giá kết quả 02 năm thực hiện Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, Bộ Công Thương đã xác định được 05 vấn đề bất cập của Nghị định này và đang chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung. Một trong những bất cập tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP đã được Bộ Công Thương chỉ ra là vấn đề khái niệm kinh doanh theo phương thức đa cấp. 

Cụ thể, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP định nghĩa: “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới”. 

Trên cơ sở định nghĩa này, Nghị định số 40/2018/NĐ-CP xác định đối tượng kinh doanh theo phương thức đa cấp tại Điều 4 như sau: “Hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp chỉ được thực hiện đối với hàng hóa…”. 

Với những quy định như trên, Nghị định số 40/2018/NĐ-CP tập trung chủ yếu quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Chỉ doanh nghiệp bán hàng đa cấp với những hàng hóa không bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận). 

Mọi hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với các đối tượng không phải là hàng hóa đều bị cấm và không được cấp giấy chứng nhận. Các hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không có giấy chứng nhận bị coi là vi phạm và xử lý theo quy định pháp luật.

Trong thực tiễn thực thi xuất hiện nhiều vụ việc mà trong đó doanh nghiệp, cá nhân thực hiện huy động vốn góp, nhận ủy thác đầu tư, bán cổ phần nội bộ… theo phương thức đa cấp. Về bản chất, đây là những hoạt động đa cấp biến tướng có tính chất lừa đảo. 

Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định pháp lý hiện hành về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp để ngăn chặn trước khi hậu quả lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra thì gặp vướng mắc. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP thì “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh…”. 

Trong khi đó, theo khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. 

Vì quy định trên, các cơ quan chức năng gặp lúng túng khi xác định các hoạt động huy động vốn có hay không phải là hoạt động kinh doanh do các hoạt động này nằm ngoài phạm vi “từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ”. Do không xác định được rõ ràng những hoạt động này là hoạt động kinh doanh nên không đủ cơ sở nhận định những hoạt động này khi được thực hiện theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.

Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này theo quy định tại Nghị định số 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấpcũng gặp vướng mắc. Cụ thể, Nghị định này không có quy định nào về xử phạt đối với những hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp bị cấm, bao gồm những hành vi như huy động vốn, cho vay, mua bán ngoại tệ, “tiền ảo”… theo phương thức đa cấp.

Một vấn đề nữa cũng nảy sinh từ thực tiễn thực thi pháp luật là thẩm quyền xử lý đối với những hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp bị cấm, bao gồm những hoạt động huy động vốn, cho vay, mua bán ngoại tệ, “tiền ảo”… theo phương thức đa cấp. 

Theo quy định hiện hành, việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp thuộc chức năng của Bộ Công Thương, mà trực tiếp là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng. 

Tuy nhiên, Bộ Công Thương chỉ thực hiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thuộc diện được cấp giấy chứng nhận và chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động bán hàng đa cấp của các doanh nghiệp này. Các hiện tượng hoạt động huy động tài chính, kinh doanh ngoại tệ, “tiền ảo”, cho vay theo phương thức đa cấp mặc dù bị cấm theo quy định pháp luật, nhưng không thuộc phạm vi quản lý nhà nước và thẩm quyền xử lý của Bộ Công Thương. 

Điều đó cũng có nghĩa là những hoạt động này không phải là hoạt động bán hàng đa cấp nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, không thuộc diện phải cấp giấy chứng nhận và cũng không bị xử lý theo quy định pháp luật về kinh doanh theo phương thức đa cấp. Vấn đề đặt ra là việc quản lý và xử lý vi phạm đối với hoạt động này sẽ thực hiện theo quy định pháp luật nào, thuộc thẩm quyền của cơ quan nào?

Văn Long (T/H)

Bạn đang đọc bài viết Những vấn đề bất cập hành lang pháp lý về kinh doanh đa cấp tại chuyên mục Tiêu điểm của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]