Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho rằng, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn, tạo ra được nhiều cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bổ không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai.
Thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng
Ngày 6/5, Bộ Tài chính đã tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. Hội nghị có sự tham dự và chỉ đạo của đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai.
Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch 6 vùng kinh tế-xã hội đã được điều chỉnh kịp thời để cập nhật các quan điểm, mục tiêu, định hướng của văn kiện Đại hội XIV của Đảng và các chủ trương mới được ban hành. Trong đó xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá, phương hướng phát triển và tổ chức không gian phát triển các ngành, lĩnh vực ở cấp độ quốc gia và cấp vùng. Việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Theo Phó Thủ tướng, điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia là công cụ để cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, chiến lược của Đảng về tổ chức không gian phát triển, là bước cụ thể hóa các mục tiêu, định hướng trong các nghị quyết, kết luận, chiến lược của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phát triển kinh tế-xã hội thành tổ chức không gian cụ thể, gắn với phân bổ nguồn lực theo ngành và theo lãnh thổ.
Đây là quy hoạch cao nhất, làm cơ sở để lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, thành phố.
Điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia là căn cứ quan trọng để phân bổ nguồn vốn đầu tư công, thu hút và định hướng đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để thực hiện thành công các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng đã được xác định trong nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc dự Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia (Ảnh: VGP)
Nhấn mạnh việc triển khai thực hiện các quy hoạch được công bố tại hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những định hình không gian phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, các vùng theo hướng thống nhất, hiệu quả, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các cấp, các ngành trong phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền được giao tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp gắn với nội dung quy hoạch, trong đó chú ý một số vấn đề trọng tâm.
Trong đó, khẩn trương tổ chức công bố, công khai quy hoạch đối với các quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt theo quy định; tập trung bố trí nguồn lực, đề xuất hoặc ban hành các cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả các nội dung của quy hoạch. Khẩn trương hoàn thành Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Huy động nguồn vốn đầu tư để thực hiện Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và các Quy hoạch vùng, trong đó tập trung ưu tiên bố trí nguồn lực cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các dự án liên vùng của các địa phương.
Về cơ chế, chính sách: Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật có quy định liên quan đến quy hoạch bảo đảm thống nhất với Luật Quy hoạch năm 2025, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế để khơi thông các nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, nhất là Luật Đất đai (sửa đổi).
Về thu hút đầu tư phát triển; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Kiên định mục tiêu tăng trưởng “2 con số” trên nền tảng giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới, động lực tăng trưởng mới gắn với chuyển đổi số; phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số. Ưu tiên xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học mang tính đột phá, tập trung vào các nhóm ngành công nghệ chiến lược.
Tập trung thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, phát triển văn hóa xã hội, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai; tăng cường quản lý kiểm soát, phát triển đô thị và nông thôn, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, quản trị, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, nông thôn; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, bảo đảm quốc phòng an ninh, tăng cường hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế, tổ chức tài chính, cơ quan tài trợ để huy động nguồn lực tài chính cho các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, dự án hỗ trợ kỹ thuật…
Định hình 6 vùng kinh tế - xã hội theo không gian phát triển mới
Theo nội dung điều chỉnh, mục tiêu đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mô hình tăng trưởng mới sẽ lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 được đặt mục tiêu từ 10%/năm trở lên. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt trên 8,5%/năm và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%.
Trong định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia được điều chỉnh theo hướng tập trung phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng quan trọng nhằm tạo đầu tàu dẫn dắt phát triển kinh tế cả nước.
Theo đó, quy hoạch lần này điều chỉnh và mở rộng hợp lý 4 vùng động lực quốc gia, đồng thời bổ sung vùng động lực Bắc Trung Bộ nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng khu vực. Bên cạnh đó, một số địa bàn, đô thị và vùng có lợi thế đặc biệt sẽ được định hướng phát triển thành trung tâm kinh tế, tài chính hoặc đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với cơ chế, chính sách vượt trội, có khả năng cạnh tranh quốc tế cao.
Ngoài ra, các hành lang kinh tế tiếp tục được hình thành và phát triển theo trục Bắc - Nam, Đông - Tây cùng các vành đai kinh tế ven biển. Trong đó, ưu tiên được dành cho hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và hành lang Mộc Bài - TP.HCM - Biên Hòa - Vũng Tàu.
Bộ Tài chính cũng cho biết sẽ phát triển các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ tại các vùng động lực và vùng đô thị lớn, đặc biệt gắn với vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và vành đai 3, vành đai 4 TP.HCM.
Song song đó, quy hoạch hướng tới hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, tập trung vào giao thông, đô thị, năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng văn hóa - xã hội, thủy lợi và phòng chống thiên tai.
Một trong những điểm đáng chú ý của điều chỉnh quy hoạch lần này là việc thể chế hóa hệ thống phân vùng kinh tế - xã hội mới phù hợp với các đơn vị hành chính sau sắp xếp. Theo Bộ Tài chính, việc phân vùng được xây dựng trên cơ sở khai thác hiệu quả không gian phát triển mới, đồng thời tăng cường liên kết vùng và liên kết kinh tế giữa các địa phương.
Theo định hướng mới, cả nước được tổ chức thành 6 vùng kinh tế - xã hội. Việc phân vùng chú trọng khai thác tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Trong đó, vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng tiếp tục được xác định là hai vùng có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước, giữ vai trò quan trọng về hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Các địa phương trong từng vùng sẽ được kết nối thuận lợi hơn với các cực tăng trưởng, vùng động lực và hành lang kinh tế quốc gia.
Anh Đào