21:22 15/10/2026

Quẹt thẻ không mua hàng: Ranh giới pháp lý nào?

Lợi dụng máy POS để tạo giao dịch khống, rút tiền hoặc đáo hạn thẻ tín dụng không chỉ tiềm ẩn rủi ro tài chính mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý. Vấn đề cốt lõi là bản chất giao dịch và hành vi cụ thể của các bên.

Quẹt thẻ không mua hàng, rủi ro từ dịch vụ rút tiền và đáo hạn qua POS

Lợi dụng máy POS để tạo giao dịch mua bán không có thật, một số cơ sở cung cấp dịch vụ rút tiền, đáo hạn thẻ tín dụng nhằm thu phí. Đằng sau việc giải quyết khoản nợ trước mắt là dư nợ mới, chi phí phát sinh và nguy cơ vi phạm pháp luật đối với các bên tham gia.

Quẹt thẻ không mua hàng Ranh giới pháp lý nào
Ảnh minh họa

Giao dịch mua hàng chỉ tồn tại trên dữ liệu

Công an TP Hà Nội cảnh báo tình trạng một số cơ sở lợi dụng tư cách đơn vị chấp nhận thẻ của doanh nghiệp, hộ kinh doanh để thực hiện giao dịch khống qua máy POS. Trên hệ thống, các khoản thanh toán được ghi nhận dưới hình thức mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, nhưng thực tế không có hoạt động mua bán tương ứng. Mục đích là rút tiền từ thẻ tín dụng hoặc thực hiện dịch vụ đáo hạn thẻ để thu phí.

Với hình thức quẹt thẻ lấy tiền mặt, chủ thẻ thực hiện một giao dịch thanh toán qua POS dù không mua hàng hay sử dụng dịch vụ. Đơn vị chấp nhận thẻ nhận tiền thanh toán, sau đó trả lại tiền cho chủ thẻ sau khi trừ phí. Khoản tiền được rút ra dưới vỏ bọc thanh toán hàng hóa, dịch vụ, còn chủ thẻ phát sinh nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng.

Đối với dịch vụ đáo hạn, cơ chế thường gặp là bên cung cấp dịch vụ ứng tiền thanh toán dư nợ đến hạn cho chủ thẻ. Sau khi hạn mức được khôi phục, cơ sở tiếp tục quẹt thẻ qua POS bằng giao dịch mua hàng không có thật để thu hồi khoản tiền đã ứng và thu phí. Khoản nợ cũ được thanh toán nhưng một khoản dư nợ mới lại hình thành.

Cách làm này có thể giúp chủ thẻ vượt qua kỳ thanh toán trước mắt, nhưng không giải quyết được nguyên nhân thiếu tiền trả nợ. Nếu tiếp tục sử dụng dịch vụ qua nhiều kỳ, người vay phải liên tục trả phí trong khi vẫn mang dư nợ. Áp lực tài chính vì thế có thể kéo dài, nhất là khi chủ thẻ tiếp tục chi tiêu vượt khả năng thanh toán.

Điểm cần nhận diện là sự khác biệt giữa dữ liệu thanh toán và hoạt động kinh doanh thực tế. Một khoản tiền chuyển về tài khoản của cửa hàng không tự chứng minh cửa hàng đã bán hàng. Khi giao dịch được tạo ra chỉ để chuyển hạn mức tín dụng thành tiền hoặc thu hồi tiền ứng đáo hạn, hình thức thanh toán đang che khuất mục đích thực sự của dòng tiền.

Việc kiểm tra cần đối chiếu doanh số qua POS với quy mô, ngành nghề kinh doanh, hóa đơn, chứng từ và hàng hóa, dịch vụ thực tế. Những trường hợp doanh số lớn bất thường, giao dịch lặp lại hoặc tiền luân chuyển qua nhiều tài khoản cần được làm rõ. Tuy nhiên, dấu hiệu bất thường là căn cứ để kiểm tra, chưa thay thế cho chứng cứ xác định hành vi và trách nhiệm của từng bên.

Giao dịch khống có chế tài, người tiếp tay cũng có thể bị xử lý

Nghị định 340/2025/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 9/2/2026, quy định cụ thể chế tài đối với giao dịch thanh toán khống tại đơn vị chấp nhận thẻ. Theo điểm c khoản 7 Điều 32, hành vi thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện thực hiện giao dịch này thuộc khung phạt 200–300 triệu đồng đối với cá nhân. Theo nguyên tắc tại Điều 3, tổ chức có cùng hành vi vi phạm chịu mức phạt gấp đôi.

Như vậy, trách nhiệm có thể được xem xét đối với cả người tổ chức và người tạo điều kiện thực hiện giao dịch khống. Việc xác định ai bị xử lý, áp dụng mức phạt nào phải căn cứ vào hành vi, vai trò, lỗi và tư cách chủ thể cụ thể; không thể áp dụng đồng loạt cho mọi người có liên quan.

Đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, việc được ngân hàng trang bị máy POS không có nghĩa có thể sử dụng thiết bị để nhận mọi khoản thanh toán. Chủ cơ sở cần kiểm soát giao dịch phát sinh, từ chối yêu cầu quẹt thẻ tạo giao dịch mua bán không có thật; không cho người khác lợi dụng thiết bị và tài khoản nhận tiền của mình để cung cấp dịch vụ trái quy định.

Trách nhiệm hành chính cũng cần được phân biệt với trách nhiệm hình sự. Nếu phát hiện thêm hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm khác, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm tương ứng. Bản thân việc có giao dịch khống qua POS chưa đủ để mặc nhiên quy kết người tham gia phạm một tội danh cụ thể.

Với ngân hàng và các tổ chức tham gia thanh toán, việc thẩm định đơn vị chấp nhận thẻ cần gắn với giám sát trong quá trình hoạt động. Doanh số, tần suất giao dịch và dòng tiền không phù hợp với đặc điểm kinh doanh là những yếu tố cần được kiểm tra, đối chiếu. Khi xuất hiện dấu hiệu gian lận, việc xử lý kịp thời giúp hạn chế rủi ro cho khách hàng và hệ thống thanh toán.

Người sử dụng thẻ cần nhìn rõ chi phí phía sau lời mời chào “đáo hạn nhanh”, “rút tiền dễ”. Thanh toán được khoản nợ đến hạn bằng tiền ứng của cơ sở dịch vụ không đồng nghĩa đã thoát nợ. Nếu nguồn thu không đủ bù chi tiêu và phí phát sinh, việc lặp lại giao dịch chỉ khiến áp lực trả nợ kéo dài.

Công an TP Hà Nội khuyến cáo người dân không giao thẻ, mã PIN, mã OTP hoặc thông tin bảo mật cho các cơ sở cung cấp dịch vụ đáo hạn. Khi gặp khó khăn trong thanh toán dư nợ, chủ thẻ nên liên hệ trực tiếp ngân hàng phát hành để được tư vấn phương án phù hợp.

Một lần quẹt thẻ có thể hoàn tất trong vài giây, nhưng khoản nợ và trách nhiệm phát sinh không kết thúc cùng biên lai thanh toán. Chủ thẻ vẫn phải trả nợ, còn cơ sở thực hiện hoặc tiếp tay cho giao dịch khống có thể phải chịu chế tài. Sự thuận tiện trước mắt không thể bảo đảm an toàn cho một giao dịch mua bán vốn không có thật.

Đình Sáng