Nói về việc làm sao xử lý được gói hỗ trợ 350.000 tỷ đồng, TS. Trần Đình Thiên cho rằng, sự ráo riết của Chính phủ trong cách tổ chức thực thi là vô cùng quan trọng. Nếu cứ duy trì lợi ích ngành, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ ở các địa phương sẽ rất khó để hiệu quả.
5 giải pháp quan trọng
Ngày 17/2, tại tọa đàm với chủ đề: “Tạo đột phá để phát triển kinh tế cả nước và TPHCM” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều chuyên gia kinh tế. Các chuyên gia kinh tế nhận định việc triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP một cách đồng bộ tại các bộ, ngành và địa phương là điều kiện quan trọng tạo đột phá để phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới.
Phát biểu tại tọa đàm, TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia chia sẻ, sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 43/2022/QH15, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP, các địa phương bắt tay vào thực hiện. Đây là chương trình rất quan trọng và phụ thuộc rất lớn vào quá trình thực thi của chúng ta.
Trong bối cảnh đó, TS. Cấn Văn Lực đưa ra 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế. Trong kịch bản tích cực, gói hỗ trợ được giải ngân hết trong 2 năm, Việt Nam sẽ hoàn toàn đạt được tăng trưởng 6-6,5% trong năm 2022 và năm tiếp theo cao hơn, đạt khoảng 7%.
Ở kịch bản tiêu cực hơn, tỷ lệ giải ngân đạt khoảng 70%, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 5-5,5% năm 2022 và đạt 6% năm 2023.
Các chuyên gia, khách mời trao đổi bên lề tọa đàm “Tạo đột phá để phát triển kinh tế cả nước và TP HCM”. Ảnh NLĐ
Theo TS. Vũ Tiến Lộc, Ủy viên Ủy ban kinh tế của Quốc hội, Việt Nam đã bắt đầu có tâm thế hoàn toàn mới trong công cuộc phục hồi và chống đại dịch Covid-19. Đó là từ tâm thế của cuộc chiến loại trừ Covid-19 bước sang tâm thế sống chung với dịch và đến nay là vượt qua dịch Covid-19. Hiện tại với chương trình phục hồi và phát triển nền kinh tế được đề ra, TS. Lộc đã đề xuất 5 giải pháp quan trọng có ý nghĩa dẫn dắt cả nước và TPHCM vượt lên đại dịch.
Giải pháp thứ nhất là mở cửa theo nghĩa rộng nhất, đỉnh cao là mở cửa kinh tế quốc tế, mở lại đường bay quốc tế, không hạn chế về tần suất khai thác của các hãng hàng không miễn là có nhu cầu của thị trường.
Thứ hai, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc và quan tâm đến đối tượng yếu thế trước biến động của kinh tế.
Thứ ba, duy trì sinh kế bằng cách thực hiện giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh có động lực phục hồi nền kinh tế.
Thứ tư, nâng cấp hạ tầng thông qua đẩy mạnh hàng loạt dự án đầu tư công để thúc đẩy phát triển tăng trưởng trong ngắn hạn, tạo đà cho phát triển dài hạn.
Thứ năm là tăng cường thể chế.
TS. Vũ Tiến Lộc nhận định, gói hỗ trợ quy mô 350.000 tỷ đồng chính là chất kích hoạt cho 5 giải pháp nêu trên. Nhưng điều quan trọng là phải thực hiện các giải pháp minh bạch, hiệu quả.
Mở cửa kinh tế quốc tế là giải pháp quan trọng để phục hồi kinh tế.
PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cũng đồng tình với các giải pháp nói trên cũng nhấn mạnh, để thực hiện các giải pháp này rất cần tính đồng bộ nhưng đây cũng chính là điều khó, đặc biệt là khó đối với Việt Nam do tính cục bộ, lợi ích…
Vì vậy, vấn đề hiện nay là làm sao xử lý được gói hỗ trợ 350.000 tỷ đồng một cách thống nhất: thống nhất về nhận thức đối với dịch bệnh, đối với phương pháp ứng phó dịch bệnh, với các yêu cầu sống còn và thống nhất ở cách triển khai, hành động.
“Nhiều người cho rằng nền kinh tế không đủ khả năng hấp thụ. Nhưng, thế nào là không hấp thụ được? Do DN yếu hay các đường dẫn nguồn lực không tới được DN? Đây là vấn đề phải phân biệt rõ để có giải pháp tháo gỡ, cụ thể là cần phải tháo gỡ thể chế để tạo ra sự đồng bộ trong việc lưu thông các nguồn lực" - TS. Trần Đình Thiên đặt vấn đề.
Một điểm nữa cũng được vị chuyên gia này nhấn mạnh là sự ráo riết của Chính phủ trong cách tổ chức thực thi là vô cùng quan trọng. Nếu cứ duy trì lợi ích ngành, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ ở các địa phương sẽ rất khó để hiệu quả.
Đồng thời, TS. Trần Đình Thiên cũng nhấn mạnh, để hấp thụ gói hỗ trợ tốt cũng cần phải xác định tọa độ ưu tiên. Như TPHCM phải là tọa độ ưu tiên. TPHCM đang trở lại chinh phục ngôi vị quán quân, là nỗ lực của TP tạo ra, vì vậy nếu tập trung ưu tiên sẽ tạo sự lan tỏa cho lưu thông nguồn lực.
Cần tư duy "vượt rào" để xây dựng trung tâm tài chính quốc tế
Cũng tại buổi tọa đàm, các chuyên gia đã chia sẻ quan điểm về đề án xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam đặt tại TP.HCM và Đà Nẵng.
Cập nhật về đề án, ông Jonathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPPG) – tập đoàn vừa ký biên bản ghi nhớ thực hiện nghiên cứu đề án với UBND TP.HCM hôm 8/2 vừa qua – cho biết các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến dự án này của Việt Nam.
Theo chia sẻ ban đầu, ước các nhà đầu tư Mỹ trước mắt đồng ý rót vốn khoảng 10 tỉ đô la Mỹ vào Việt Nam, bao gồm 6 tỉ đô la tại TP.HCM và 4 tỉ đô la tại Đà Nẵng để xây dựng trung tâm tài chính quốc tế. Ngoài số tiền cam kết bằng văn bản, đơn vị này còn trao đổi nhiều với các nhà đầu tư, đơn vị tư vấn về mô hình hoạt động.
Bên cạnh đề án do IPPG nghiên cứu, Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TP.HCM (HFIC), đơn vị đầu mối quản lý đề án Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP.HCM, cũng ký kết với Trường Đại học Fulbright để cùng nghiên cứu về đề án này.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HĐTV của HFIC, đơn vị này dự kiến sẽ hoàn thiện dự thảo gửi lên vào tháng 4 tới. HFIC hiện đang chuẩn bị nội dung báo cáo thành phố, với các nội dung cơ bản là nêu lên sự cần thiết của đề án, kinh nghiệm thế giới, xác định trụ cột quan trọng của trung tâm tài chính, mô hình và kiến nghị chính sách.
Ông Jonathan Hạnh Nguyễn tại buổi tọa đàm. Ảnh: BTC
Theo ông Johnathan Hạnh Nguyễn, đơn vị này đã nghiên cứu đề án trung tâm tài chính quốc tế từ năm 2016, nhưng ở thời điểm đó chưa sẵn sàng nên chưa thể triển khai. Còn ở thời điểm hiện tại, lộ trình cho trung tâm tài chính đang dần hiện rõ hơn trong khi nhiều quốc gia khác cũng chạy đua gọi vốn. Vì vậy Việt Nam cần chớp lấy cơ hội và chính sách cần có sự đột phá so với khung pháp lý hiện hành. “Nếu làm đề án có tính an toàn thì Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt hậu, khó cạnh tranh quốc tế”, ông nói.
Theo các chuyên gia, khó khăn của đề án nằm ở chỗ thuyết phục cấp thẩm quyền về tính khả thi. Có rất nhiều điểm còn vướng mắc, chưa rõ ràng của đề án và điểm nghẽn của thị trường, sự đồng thuận chính trị vì liên quan đến rất nhiều vấn đề khác nhau, từ quy hoạch đô thị, khả năng chuyển đổi tiền đồng khi trở thành trung tâm tài chính, tự do hóa tài khoản vốn, hạ tầng, quản lý dữ liệu, tiêu chuẩn kế toán, nâng hạng thị trường chứng khoán,…
Theo đánh giá của TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, trong lĩnh vực tài chính, khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới là quá xa, nên sự khó khăn sẽ càng gấp bội.
Đa phần các diễn giả cho rằng cần thay đổi tư duy khi kiến tạo trung tâm tài chính quốc tế. Theo TS. Trần Đình Thiên, đây là đề án quốc gia chứ không phải là của riêng TP.HCM, nên nếu xin cơ chế riêng cho TP.HCM thì rất khó. “Cần thoát khỏi ám ảnh lợi ích nhóm và xem đây là dự án hình mẫu tạo sự đột phá quốc gia”, ông Thiên nêu quan điểm.
Ở khía cạnh khác, cần phải xem lại cách tư duy truyền thống vì hiện thế giới tài chính đang thay đổi rất nhanh. Theo đó, các giao dịch số, điện tử, tiền kỹ thuật số, tiền mã hóa… là xu hướng của tương lai. “Trong bối cảnh đó, Việt Nam nên định vị mình như thế nào trong thế giới tài chính tiền tệ thay đổi”, TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, đặt vấn đề.
Trong khi đó, PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế TP.HCM, cho rằng điểm mấu chốt của trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM là làm sao có cơ chế chính sách để thu hút được các “đại bàng”, làm cho những “đại bàng” đó tin tưởng đầu tư vào TP.HCM thay vì các thị trường khác.
Còn theo TS. Võ Trí Thành, cách tiếp cận xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam cần phải tạo sự đột phá vượt trội, xác định TP.HCM có năng lực cạnh tranh quốc tế, so sánh được với Hồng Kông, Singapore, Dubai,… Đề án cũng cần lựa chọn mô hình trung tâm tài chính mới chứ không phải theo cách truyền thống, gắn với đô thị hoá và đa dịch vụ chất lượng cao… Trong bối cảnh hiện nay thì đừng tư duy trong khuôn khổ pháp lý hiện hành.
Đinh Hiệu