09:17 27/10/2026

Tạo động lực đột phá cho du lịch Việt Nam

Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về phát triển du lịch, đặc biệt là mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Tạo cú hích thu hút đầu tư, hình thành sản phẩm, điểm đến có sức cạnh tranh

Ngày 26/10, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Lâm Thị Phương Thanh đã chủ trì Hội nghị lấy ý kiến Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam. 

Phát biểu khai mạc tại hội nghị, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian qua, các cơ quan của Chính phủ, cơ quan Trung ương đã tham gia vào quá trình xây dựng cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng. Đặc biệt, ý kiến đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp đã được quan tâm, tiếp thu trong quá trình xây dựng chính sách.

Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07/09/2026 để cụ thể hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW. Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng được giao tham mưu xây dựng, trình Quốc hội ban hành nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, qua đó cụ thể hóa các quan điểm, định hướng quan trọng của Nghị quyết số 26.

Theo Bộ trưởng, Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương lớn, đồng thời cụ thể hóa những định hướng, tư duy mới về phát triển du lịch trong giai đoạn mới.

Bộ trưởng bày tỏ kỳ vọng nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra những cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực xã hội và nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Tạo động lực đột phá cho du lịch Việt Nam
Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh chủ trì Hội nghị

Báo cáo tại hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho biết, dự thảo Nghị quyết  hướng tới 03 mục tiêu: tạo cú hích thu hút đầu tư, hình thành sản phẩm, điểm đến có sức cạnh tranh quốc tế; giảm chi phí, mở rộng không gian kinh doanh cho doanh nghiệp, để hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư thực sự tham gia, hưởng lợi từ du lịch; nâng sức cạnh tranh của điểm đến, tăng thời gian lưu trú, chi tiêu của du khách và đóng góp của du lịch vào tăng trưởng.

Dự thảo gồm 12 điều, lựa chọn những chính sách then chốt, áp dụng có trọng tâm tại các trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, địa bàn du lịch cộng đồng và vùng khó khăn; ưu đãi gắn với điều kiện, kết quả và cơ chế giám sát. Các chính sách được thiết kế trên nguyên tắc bám sát tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Dự thảo Nghị quyết đề ra 6 nhóm chính sách trọng tâm. Trong đó, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dự án phát triển du lịch, phân tầng theo quy mô và sức lan tỏa; dự án lớn được hưởng ưu đãi mạnh về thuế, tiền thuê đất, thời hạn hoạt động; địa bàn khó khăn được hạ ngưỡng điều kiện để kéo đầu tư về vùng sâu, vùng xa.

Giảm chi phí cho doanh nghiệp, gắn kết với cộng đồng; khách sạn chất lượng cao, mật độ xây dựng thấp được giảm tiền thuê đất cho không gian xanh; hỗ trợ cho các doanh nghiệp mở đường bay mới, tiêu thụ dài hạn sản phẩm OCOP.

Mở không gian cho mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, du lịch xanh, du lịch số, du lịch y tế được ưu đãi thuế; cho phép thí điểm có kiểm soát khu giải trí, phố lễ hội hoạt động 24/7, cấp phép một lần cho các sự kiện định kỳ.

Đồng thời, tập trung đầu tư vào con người; ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhân lực chất lượng cao tới các trung tâm du lịch; hỗ trợ đào tạo, nhất là cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; bố trí nhà ở cho người lao động tại các dự án du lịch. Chính sách thị thực thông thoáng theo hướng mở rộng miễn thị thực, linh hoạt theo thị trường, ưu tiên khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

Bên cạnh đó, Nhà nước dẫn dắt bằng nguồn lực công, ưu tiên hạ tầng kết nối, bảo đảm kinh phí xúc tiến quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư phát triển du lịch xanh.

Dự thảo tập trung vào những nội dung quan trọng, cần thiết có chính sách để thể chế hóa Nghị quyết 26. Trọng tâm là tạo động lực cho các nhà đầu tư, giảm chi phí cho doanh nghiệp, mở không gian phát triển cho các mô hình kinh doanh mới, cải thiện thu nhập của người lao động và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn từ thực tiễn

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho biết, mục tiêu Nghị quyết hướng tới xây dựng những cơ chế, chính sách đặc thù tạo động lực đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi trong tiếp cận và bảo đảm tính khả thi khi triển khai.

Đối với nhóm chính sách ưu đãi đầu tư, cần đánh giá tính phù hợp của các ngưỡng vốn, lao động đối với từng nhóm dự án, tránh bỏ sót những dự án ứng dụng công nghệ, sử dụng ít lao động nhưng tạo ra giá trị gia tăng cao; đồng thời xem xét mức độ hấp dẫn của các gói ưu đãi và khả năng cam kết, đo lường hiệu quả đầu tư thông qua giải ngân, doanh thu, việc làm, liên kết địa phương và thu hút khách quốc tế.

Tạo động lực đột phá cho du lịch Việt Nam
Khơi thông nguồn lực và tạo động lực mới cho ngành du lịch phát triển

Về hỗ trợ cơ sở lưu trú, mở đường bay mới và liên kết tiêu thụ sản phẩm, cần làm rõ điều kiện áp dụng ưu đãi, phương thức hỗ trợ hàng không gắn với hiệu quả khai thác đường bay, cũng như giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp du lịch tăng cường sử dụng sản phẩm địa phương, bảo đảm chất lượng và tính ổn định của chuỗi cung ứng.

Về chính sách phát triển các mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm và thử nghiệm có kiểm soát, doanh nghiệp cần chỉ rõ những vướng mắc về thủ tục, điều kiện kinh doanh và cơ chế quản lý đang cản trở việc triển khai các mô hình mới. Việc đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội và giải trí vận hành linh hoạt cần đi đôi với yêu cầu bảo đảm an toàn, môi trường và trách nhiệm với cộng đồng.

Liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo, cần xác định đúng những vị trí, kỹ năng còn thiếu hụt, xây dựng tiêu chí phù hợp đối với chuyên gia và nhân lực chất lượng cao, đồng thời đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng và nhà ở cho người lao động.

Đối với chính sách thị thực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, cần hướng đến nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam so với các điểm đến trong khu vực, hướng tới những thị trường trọng điểm và nhóm khách có mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài. Tuy nhiên, việc mở rộng chính sách thị thực phải được cân nhắc hài hòa với yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thận trọng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến nhưng vẫn giữ vững lợi thế về an toàn, an ninh của du lịch Việt Nam.

Về phát triển du lịch cộng đồng, doanh nghiệp nhỏ và liên kết điểm đến, cần làm rõ nhu cầu hỗ trợ thực tế của các điểm du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và nông thôn; đồng thời tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp lữ hành trong kết nối thị trường, đào tạo, tiêu thụ sản phẩm và chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Các điều kiện, thủ tục hỗ trợ cũng cần được thiết kế theo hướng thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân có thể tiếp cận.

Đối với nhóm chính sách về hạ tầng, xúc tiến, tín dụng và tổ chức thực hiện, doanh nghiệp cần chỉ rõ những điểm nghẽn đang trực tiếp cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh; đồng thời góp ý về cơ chế hỗ trợ tín dụng, thủ tục xác nhận điều kiện thụ hưởng và phương thức kiểm tra, giám sát sau hỗ trợ, bảo đảm minh bạch, nhanh chóng, hạn chế phát sinh thủ tục qua nhiều cơ quan.

Anh Đào