Du lịch Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, với khoảng 12,3 triệu lượt khách quốc tế trong 6 tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu 25 triệu khách quốc tế và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng lượng khách mà còn phải kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu và mở rộng sức lan tỏa sang các ngành kinh tế khác.
Du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới sau quá trình phục hồi mạnh mẽ. Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm 2024 và vượt mức năm 2019. Khách nội địa đạt khoảng 137 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch khoảng 1 triệu tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục đón khoảng 12,3 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2025. Thị trường nội địa đạt khoảng 81 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch ước 569 nghìn tỷ đồng.
Những con số trên cho thấy nhu cầu du lịch tiếp tục tăng, tạo nền tảng để ngành hướng tới mục tiêu năm 2026 đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu khoảng 1,125 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, phía sau bài toán tăng trưởng về lượng là yêu cầu lớn hơn: làm thế nào để mỗi du khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế. Bởi một dòng khách không chỉ tạo doanh thu cho doanh nghiệp lữ hành mà còn kéo theo nhu cầu đối với hàng không, vận tải, lưu trú, ăn uống, thương mại, giải trí, nông nghiệp và công nghiệp văn hóa.
Tháo gỡ những điểm nghẽn cản bước tăng trưởng
Tại Diễn đàn Lữ hành quốc tế năm 2026 với chủ đề “Tăng tốc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam: Thị trường mới - Sản phẩm mới - Liên kết mới”, tổ chức ngày 16/8 tại Gia Lai, các chuyên gia, doanh nghiệp và địa phương tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong thu hút khách quốc tế.
Một trong những vấn đề đầu tiên là khả năng tiếp cận điểm đến. Chính sách thị thực đã có nhiều cải thiện nhưng sự thuận tiện từ cửa khẩu đến điểm đến chưa phải lúc nào cũng đồng bộ. Năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không chiếm hơn 84%, cho thấy việc mở rộng đường bay, nâng năng lực sân bay cửa ngõ và tăng kết nối giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Xúc tiến, quảng bá cũng cần thay đổi. Hoạt động quảng bá không nên dừng ở giới thiệu hình ảnh mà phải hướng tới khả năng chuyển hóa thành tour, booking và doanh thu. Theo đó, cần xác định rõ từng thị trường, nhóm khách và sản phẩm, đồng thời có dữ liệu để đo lường hiệu quả.
Liên kết vùng là một điểm nghẽn khác. Tài nguyên du lịch Việt Nam đa dạng nhưng còn phân tán, trong khi nhiều địa phương vẫn phát triển sản phẩm và xúc tiến theo cách riêng. Việc hình thành các hành lang du lịch liên vùng, liên kết về sản phẩm, giao thông, dữ liệu và xúc tiến sẽ giúp tạo ra những hành trình dài ngày, đa trải nghiệm.
Sản phẩm du lịch cũng cần được đổi mới mạnh hơn. Thay vì chỉ tham quan, du khách ngày càng quan tâm đến những trải nghiệm chuyên biệt như du lịch đêm, ẩm thực, mua sắm, chăm sóc sức khỏe, thể thao, du lịch cộng đồng, du lịch xanh, du lịch y tế và MICE.
Trong khi đó, nguồn nhân lực chất lượng cao và dữ liệu du lịch vẫn là những mắt xích cần được củng cố. Ngành cần đội ngũ có ngoại ngữ, kỹ năng số, năng lực quản trị và tư duy quốc tế; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu đủ sâu để nhận diện thị trường, sở thích, mức chi tiêu, thời gian lưu trú và khả năng quay trở lại của du khách.
Bà Cao Thị Ngọc Lan, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam, cho rằng tăng trưởng du lịch trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận rộng hơn những con số về lượng khách. Điều quan trọng là chất lượng dòng khách, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng quay trở lại, sức lan tỏa đến các địa phương và năng lực cạnh tranh dài hạn của điểm đến.
Từ tài nguyên sang sản phẩm, từ tăng khách sang tăng giá trị
Thực tế tại các địa phương cho thấy dư địa tăng trưởng còn lớn nhưng khả năng chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm có sức cạnh tranh vẫn là vấn đề cần giải quyết. Tại Gia Lai, trong 7 tháng đầu năm 2026, địa phương đón 10,55 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế gần 148.000 lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt gần 23.000 tỷ đồng. Với lợi thế kết hợp giữa biển, cao nguyên, thiên nhiên và văn hóa, Gia Lai đang hướng tới việc hình thành những hành trình liên vùng thay vì khai thác từng điểm đến riêng lẻ.
Thông điệp “Đại ngàn chạm biển xanh” được kỳ vọng tạo ra các sản phẩm kết hợp biển, văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao và cộng đồng. Tuy nhiên, để những lợi thế này thực sự tạo ra dòng khách quốc tế, địa phương cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, kết nối hàng không, xây dựng sản phẩm phù hợp với từng thị trường và tăng liên kết với doanh nghiệp lữ hành.
Khánh Hòa cũng cho thấy rõ yêu cầu chuyển từ tăng trưởng về lượng sang tăng trưởng về chất. Sáu tháng đầu năm 2026, tỉnh đón gần 11,9 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 4,6 triệu lượt; tổng thu từ du lịch ước hơn 42.500 tỷ đồng.
Dù vậy, địa phương vẫn đối mặt với những hạn chế về quản trị điểm đến, sản phẩm mới và hạ tầng. Các loại hình như kinh tế đêm, du lịch văn hóa, chăm sóc sức khỏe, du lịch tàu biển và du lịch cộng đồng chưa phát triển tương xứng.
Đáng chú ý, kinh tế đêm được xem là một hướng để kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu. Khi các hoạt động vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua sắm và trải nghiệm văn hóa được tổ chức bài bản, du khách sẽ có thêm lý do ở lại lâu hơn thay vì kết thúc hành trình sớm.
Câu chuyện của Gia Lai hay Khánh Hòa cho thấy điểm nghẽn của du lịch hiện nay không còn chủ yếu nằm ở việc thiếu tài nguyên. Vấn đề là khả năng kết nối tài nguyên thành sản phẩm, kết nối sản phẩm với thị trường và kết nối các doanh nghiệp trong một chuỗi giá trị thống nhất.
Cùng với đó, phát triển du lịch cần gắn với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Du khách quốc tế ngày càng quan tâm đến môi trường, cộng đồng và những lựa chọn có trách nhiệm. Vì vậy, xanh hóa cần được thực hiện xuyên suốt từ vận tải, lưu trú, sử dụng năng lượng, xử lý rác thải đến kiểm soát sức chứa tại điểm đến.
Công nghệ cũng đang thay đổi cách du khách tìm kiếm, đặt dịch vụ và trải nghiệm. Vé điện tử, bản đồ số, mã QR, thuyết minh tự động hay các ứng dụng AI có thể giúp cá nhân hóa hành trình và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, để chuyển đổi số đi vào thực chất, cần cơ sở dữ liệu dùng chung và sự liên thông giữa các địa phương, doanh nghiệp và dịch vụ.
Thu hút dòng vốn chất lượng, xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn
Tăng trưởng du lịch đồng thời mở ra nhu cầu lớn về đầu tư. Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD, với trọng tâm là nguồn vốn chất lượng cao, công nghệ hiện đại và quản trị tiên tiến.
Đối với du lịch, cơ hội đầu tư không chỉ nằm ở khách sạn, resort mà còn mở rộng sang hạ tầng, cảng biển, trung tâm hội nghị, kinh tế đêm, công viên chủ đề, du lịch xanh, nền tảng số, công nghiệp văn hóa, MICE và các tổ hợp nghỉ dưỡng gắn với y tế, thể thao, giải trí. Tuy nhiên, vốn sẽ không tự chảy vào mọi dự án du lịch. Nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến quy hoạch, pháp lý đất đai, hạ tầng và khả năng vận hành. Vì vậy, địa phương cần chuẩn bị quỹ đất sạch, danh mục dự án rõ ràng, pháp lý minh bạch và cơ chế xử lý thủ tục hiệu quả.
Theo ông Lê Công Năng - Chủ tịch Diễn đàn Doanh nhân Việt Nam, Chủ tịch HĐQT WonderTour, cuộc cạnh tranh sắp tới không chỉ là cạnh tranh giành khách mà còn là cạnh tranh thu hút dòng vốn chất lượng. Doanh nghiệp du lịch cần chuyển từ mô hình bán tour sang xây dựng hệ sinh thái trải nghiệm, tăng đầu tư vào chuyển đổi số, quản trị minh bạch, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và liên kết với địa phương, hàng không, khách sạn và các nền tảng công nghệ.
Về dài hạn, mục tiêu của du lịch Việt Nam không nên chỉ được đo bằng số lượt khách. Thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỷ lệ quay trở lại, mức độ hài lòng, chất lượng môi trường và lợi ích dành cho cộng đồng cần trở thành những chỉ số quan trọng.
Ông Vũ Thế Bình - Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam, nhấn mạnh, người dân địa phương phải trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Khi cộng đồng được tham gia xây dựng sản phẩm, tạo sinh kế và chia sẻ lợi ích, họ sẽ có thêm động lực bảo vệ tài nguyên và gìn giữ bản sắc.
Du lịch Việt Nam đang có nền tảng thuận lợi để bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới. Nhưng để biến lợi thế thành động lực tăng trưởng thực chất, cần tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về visa, hạ tầng, hàng không, xúc tiến, sản phẩm, nhân lực, dữ liệu và quản trị điểm đến. Khi mỗi dòng khách tạo ra nhiều giá trị hơn, mỗi sản phẩm kéo dài thời gian lưu trú và mỗi địa phương cùng tham gia một chuỗi liên kết, du lịch mới có thể chuyển từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang tăng trưởng dựa vào chất lượng và giá trị.
Trung Anh