14:41 19/04/2025

Tiếp tục hoàn thiện các quy định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Chính sách

Bộ Nội đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Tạo hành lang pháp lý đầy đủ, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Bộ Nội vụ cho biết, ngày 29/6/2024, Quốc hội ban hành Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 trong đó, một số nội dung Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong công tác Bảo hiểm xã hội, gồm nội dung: đôn đốc thực hiện trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; biện pháp xử lý hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; biện pháp xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội và tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm xã hội.

Về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp: đây là nội dung mới do các quy định trước đây về bảo hiểm xã hội chưa quy định rõ khái niệm như thế nào là chậm đóng, trốn đóng.

Tiếp tục hoàn thiện các quy định xử phạt về bảo hiểm xã hội

Về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: ngày 17/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2022/NĐ-CP thay thế Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020, trong đó quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nhằm khắc phục kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đảm bảo tính thống nhất và tính hiệu lực của một số văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành hoặc mới được sửa đổi, bổ sung (các văn bản gồm: Luật Việc làm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, các Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động năm 2019).

Nghị định số 12/2022/NĐ-CP cùng với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã tạo hành lang pháp lý hữu hiệu cho công tác xử lý, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, góp phần nâng cao ý thức chấp hành, tính tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, đến nay, việc áp dụng trên thực tế, đã xuất hiện các yêu cầu, đòi hỏi các quy định xử phạt về bảo hiểm xã hội cần phải được tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể: yêu cầu từ việc đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật sau khi Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 được ban hành và khắc phục những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Nghị định số 12/2022/NĐ-CP phát sinh một số vướng mắc, bất cập trong công tác xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, như tại khoản 5 Điều 39 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động...”. Tuy nhiên, chưa có quy định về việc xác định mức tiền phạt trong trường hợp đối tượng vi phạm đã khắc phục hết số tiền chậm đóng trước thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.

Ngày 27/7/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 717/QĐ-TTg về ban hành danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 7. Trong đó, giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội và quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.

Xuất phát từ những căn cứ và yêu cầu trên, việc xây dựng Nghị định là hết sức cần thiết nhằm quy định chi tiết, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thời gian qua, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Dự thảo Nghị định tập trung cụ thể hóa các quy định được giao trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024; kế thừa những quy định vẫn còn phù hợp về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Cụ thể hóa các quy định về: Chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về bảo hiểm xã hội; Tố cáo và giải quyết tố cáo về bảo hiểm xã hội; Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Các trường hợp bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Theo dự thảo, các trường hợp bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại điểm g Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội được đề xuất quy định như sau:

1- Không đăng ký tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đối với khoản tiền lương để ngoài sổ kế toán.

2- Người sử dụng lao động sử dụng giấy tờ, tài liệu, thông tin không có thật để được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Các trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Các trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại khoản 4 Điều 38, khoản 2 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội được đề xuất quy định như sau:

1- Người sử dụng lao động đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng thời hạn do gặp phải sự cố khách quan không thể lường trước được và khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. (*)

2- Người sử dụng lao động không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp do gặp phải sự cố khách quan không thể lường trước được và khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. (**)

Tiếp tục hoàn thiện các quy định xử phạt về bảo hiểm xã hội

Số tiền, số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Theo dự thảo, số tiền, số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội được đề xuất quy định như sau:

Số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp:

a) Chậm đóng theo khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội còn phải đóng theo đăng ký sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động còn phải đóng theo đăng ký sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất quy định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

b) Chậm đóng theo khoản 2, khoản 3 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

c) Chậm đóng theo khoản (*) nêu trên: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội phải đóng cho người lao động trong thời gian chưa tham gia bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

d) Chậm đóng theo khoản (**) nêu trên: quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định này.

Số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội hoặc sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

Xác định hành vi chậm đóng, trốn đóng

Xác định hành vi chậm đóng, trốn đóng; tổ chức thu số tiền chậm đóng, trốn đóng và tổ chức thu số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền chậm đóng, trốn đóng như sau:

Giám đốc cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý trực tiếp đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp có trách nhiệm xác định hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; áp dụng hoặc trình cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý trực tiếp đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp xác định số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng, trốn đóng và số ngày chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; tính số tiền người sử dụng lao động phải nộp bằng 0,03%/ngày đối với số tiền chậm đóng, trốn đóng; thông báo với người sử dụng lao động để đối chiếu; tổ chức thu và quản lý theo quy định.

Người sử dụng nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện thu theo thứ tự sau:

1- Thu số tiền bằng 0,03%/ngày đối với số tiền chậm đóng, trốn đóng.

2- Thu số tiền trốn đóng, nộp vào các quỹ bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý đảm bảo chia đều theo tỷ lệ số tiền trốn đóng vào các quỹ bảo hiểm.

3- Thu số tiền chậm đóng, nộp vào các quỹ bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý đảm bảo chia đều theo tỷ lệ số tiền chậm đóng vào các quỹ bảo hiểm.

4- Các khoản phải nộp khác theo quy định.

Biện pháp xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Theo dự thảo, khi phát hiện hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng đồng thời các biện pháp xử lý sau:

- Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền chậm đóng, trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng, trốn đóng và số ngày chậm đóng, trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

- Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

- Không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Trung Anh

Bạn đang đọc bài viết Tiếp tục hoàn thiện các quy định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại chuyên mục Chính sách của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]