Xuất nhập khẩu 8 tháng đạt kỷ lục, nhưng doanh nghiệp FDI chiếm hơn 80% xuất khẩu. Cơ hội lớn đang mở ra, song doanh nghiệp Việt phải tìm cách bước sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Dòng hàng hóa tăng mạnh, doanh nghiệp Việt vẫn còn chậm
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 770 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ và là mức cao nhất từ trước đến nay. Xuất khẩu đạt gần 375 tỷ USD, tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu lên hơn 395 tỷ USD, tăng tới 35,3%. Cán cân thương mại vì vậy chuyển từ xuất siêu hơn 14 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu gần 21 tỷ USD.
Điểm đáng chú ý là nhập khẩu tăng mạnh không chủ yếu đến từ hàng tiêu dùng mà tư liệu sản xuất chiếm tới hơn 94% tổng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy dòng hàng hóa đang gắn chặt với nhu cầu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất.
Ở chiều xuất khẩu, hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực với gần 338 tỷ USD, chiếm 90,2% tổng kim ngạch. Điện tử, máy tính và linh kiện đạt hơn 101 tỷ USD, tăng 51,1%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt hơn 47 tỷ USD, tăng 26,4%.
Doanh nghiệp Việt loay hoay tìm vị trí (ảnh: Đinh Phương)
Những con số này cho thấy Việt Nam đang ngày càng trở thành một mắt xích và vị trí quan trọng trong chuỗi sản xuất và thương mại toàn cầu. Nhưng đằng sau quy mô hàng hóa ngày càng lớn lại xuất hiện một câu hỏi đáng chú ý hơn: doanh nghiệp Việt đang đứng ở đâu trong dòng chảy đó?
Dù xuất khẩu hàng hóa tăng mạnh trong 8 tháng, nhưng khu vực FDI đạt tới hơn 300 tỷ USD xuất khẩu, chiếm hơn 80% tổng kim ngạch, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt vọn vẹ chưa tới một phần năm tổng kim ngạch, đạt gần 75 tỷ USD, chiếm gần 20%. Đáng nói, xuất khẩu của khu vực trong nước chỉ tăng 7,4%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 26,9% của khu vực FDI.
Như vậy, phần lớn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hiện vẫn được tạo ra bởi khu vực FDI. Đây không phải là vấn đề của riêng xuất khẩu, mà phản ánh vị trí của doanh nghiệp Việt trong cả chuỗi cung ứng còn khá mờ nhạt và chưa sâu. Trong khi có một nghịch lý khác cũng đáng chú ý nữa là khu vực FDI đồng thời chiếm phần lớn kim ngạch nhập khẩu, với gần 300 tỷ USD, tăng tới 40%.
Điều này cho thấy những nhà máy FDI đang kéo theo một dòng nhập khẩu rất lớn để phục vụ sản xuất. Cơ hội cho doanh nghiệp Việt vì thế không nằm ngoài dòng chảy này, mà nằm ngay ở những linh kiện, nguyên liệu, vật liệu, dịch vụ kỹ thuật và các sản phẩm phụ trợ mà các nhà máy của các doanh nghiệp đang phải mua từ bên ngoài.
Muốn có chỗ đứng, phải gấp rút lớn mạnh bước vào chuỗi cung ứng
Việt Nam hiện có một nền tảng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngày càng lớn. Theo thông tin từ Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cả nước có gần 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tập trung ở các lĩnh vực cơ khí, ô tô, điện - điện tử, dệt may và công nghệ cao. Tuy nhiên, chỉ gần 300 doanh nghiệp - một con số còn khá khiêm tốn đã tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI lớn như Samsung, Honda, Toyota, LG.
Khoảng cách này cho thấy vấn đề không nằm ở số lượng doanh nghiệp, mà nằm ở khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng hiện đại. Theo một số đánh giá gần đây cho thấy công nghiệp hỗ trợ trong nước mới đáp ứng khoảng 10% nhu cầu linh kiện, phụ tùng cho sản xuất, trong khi tỷ lệ nội địa hóa của riêng doanh nghiệp Việt chỉ khoảng gần 16%, chính là khoảng trống thị trường rất lớn.
Khi nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện trong 8 tháng lên tới gần 162 tỷ USD, tăng hơn 68%, hay máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt hơn 47 tỷ USD, tăng trên 22%, không thể chỉ nhìn đây là áp lực nhập khẩu. Ở một góc độ khác, đó là quy mô thị trường đầu vào mà doanh nghiệp trong nước có thể từng bước thay thế hoặc tham gia cung ứng.
Vấn đề là doanh nghiệp Việt không thể bước vào chuỗi cung ứng chỉ bằng lợi thế giá rẻ khi các tập đoàn toàn cầu ngày càng yêu cầu nhà cung cấp đáp ứng đồng thời chất lượng ổn định, giao hàng đúng hạn, truy xuất nguồn gốc, quản trị dữ liệu, tiêu chuẩn môi trường và khả năng sản xuất theo quy mô lớn. Khi các yêu cầu xanh hóa và phát triển bền vững ngày càng trở thành điều kiện của thị trường xuất khẩu, khoảng cách về công nghệ và quản trị sẽ quyết định khả năng doanh nghiệp Việt có được chọn làm nhà cung cấp hay không.
Đặc biệt là chính sách cũng đang dịch chuyển theo hướng này, Bộ Công Thương đã phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, với mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tại TP. Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, Hội nghị Tìm kiếm Nhà cung cấp Công nghiệp hỗ trợ 2026 đã kết nối được hơn 160 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với các tập đoàn FDI trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, cơ khí chế tạo và bán dẫn. Hoạt động kết nối như vậy cho thấy cuộc chơi đang chuyển từ ‘thu hút nhà máy’ sang ‘xây dựng hệ sinh thái cung ứng quanh nhà máy’.
Đây cũng là hướng đi thực tế hơn với doanh nghiệp Việt, thay vì cạnh tranh trực diện với các tập đoàn đa quốc gia ở sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những mắt xích cụ thể: linh kiện, khuôn mẫu, vật liệu, bao bì kỹ thuật, phụ tùng, thiết bị phụ trợ, dịch vụ bảo trì, logistics và các dịch vụ công nghiệp chuyên sâu.
Khi từng doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung cấp cấp 1 hoặc cấp 2 cho các tập đoàn lớn, giá trị nội địa trong mỗi sản phẩm xuất khẩu sẽ tăng lên. Khi đó, tăng trưởng xuất nhập khẩu không chỉ được đo bằng số USD hàng hóa đi qua biên giới, mà còn bằng bao nhiêu giá trị được tạo ra và giữ lại tại Việt Nam.
Chỗ đứng không tự đến, trong dòng chảy thương mại hơn 770 tỷ USD đang mở ra một thị trường khổng lồ cho doanh nghiệp Việt. Nhưng quy mô của dòng hàng hóa không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước đã có vị trí tương xứng trong chuỗi giá trị.
Thách thức phía trước vì vậy không chỉ là tăng xuất khẩu, cũng không phải giảm nhập khẩu bằng mọi giá. Điều quan trọng hơn là thay đổi vị trí của doanh nghiệp Việt trong chính dòng hàng hóa đang ngày càng lớn lên.
Từ một doanh nghiệp mua nguyên liệu, cần tiến tới trở thành nhà cung cấp nguyên liệu; từ gia công, tiến lên sản xuất linh kiện; từ nhà cung cấp cấp thấp, từng bước trở thành nhà cung cấp cấp 1; và từ làm theo đơn đặt hàng, tiến tới tham gia thiết kế, công nghệ và phát triển sản phẩm.
Nếu làm được điều đó, kỷ lục 770 tỷ USD sẽ không chỉ là con số về quy mô thương mại. Đó sẽ là thước đo cho quá trình doanh nghiệp Việt giành lại từng phần giá trị trong dòng chảy hàng hóa toàn cầu.
Phượng Hòa