Theo Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), Việt Nam được đánh giá là điểm đến đầu tư hấp dẫn thứ hai trên thế giới và dẫn đầu khu vực châu Á.
Đứng thứ 2 thế giới
Mới đây, chia sẻ với truyền thông, bà Dương Thị Vĩnh Hà, Trưởng phòng Đầu tư nước ngoài thuộc Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao về môi trường đầu tư.
Tạp chí Nikkei Asia nhận định Việt Nam dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về tốc độ phục hồi sau đại dịch Covid-19 và xếp thứ 8 toàn cầu. Đồng thời, Ngân hàng HSBC đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn cho các doanh nghiệp nước ngoài.
“Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản coi Việt Nam là địa điểm đầu tư hấp dẫn thứ 2 thế giới và đứng đầu châu Á”, Bà Dương Thị Vĩnh Hà cho biết.
EuroCham (Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam) cũng xếp Việt Nam vào nhóm 10 điểm đến đầu tư hàng đầu toàn cầu.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 30/11/2024, Việt Nam có 41.720 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 496,7 tỷ USD. Tổng vốn thực hiện lũy kế của các dự án ước tính đạt gần 318,9 tỷ USD, chiếm 64,2% tổng vốn đăng ký.
Đến nay, 147 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đăng ký hơn 89,1 tỷ USD (chiếm 17,9% tổng FDI), tiếp theo là Singapore với 82,3 tỷ USD (chiếm 16,6%). Các nhà đầu tư lớn khác bao gồm Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hồng Kông (Trung Quốc).
Trong hai năm 2023-2024, dù kinh tế thế giới gặp nhiều biến động và dòng vốn FDI toàn cầu giảm, Việt Nam vẫn ghi nhận xu hướng tăng trưởng FDI. Năm 2023, Việt Nam thu hút được 39,4 tỷ USD vốn FDI, tăng gần 35% so với năm 2022.
Dự báo năm 2024, dòng vốn FDI sẽ đạt khoảng 39-40 tỷ USD, trong khi vốn FDI giải ngân dự kiến tăng từ 5-7% so với năm trước. Mặc dù mức tăng không đột phá, nhưng các chuyên gia kinh tế đánh giá FDI vẫn là điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2024.
Việt Nam là lựa chọn hàng đầu cho các nhà đầu tư quốc tế tại châu Á.
Điểm đến đầy hứa hẹn của nhà đầu tư nước ngoài
Về triển vọng thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian tới, bà Dương Thị Vĩnh Hà nhận định rằng Nhật Bản và Hàn Quốc có xu hướng chậm lại trong việc đưa ra các quyết định đầu tư vào Việt Nam do những vấn đề nội tại của nền kinh tế.
Tuy nhiên, Trung Quốc đang mở rộng đầu tư để đa dạng hóa chuỗi cung ứng và tận dụng các lợi thế từ các cam kết thương mại mà Việt Nam tham gia.
Singapore và các doanh nghiệp từ các nước thứ ba đặt tại Singapore cũng tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Đài Loan (Trung Quốc) có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang Việt Nam trong các lĩnh vực như điện, điện tử, hàng gia dụng, công nghệ, và pin xe điện.
Các quốc gia châu Âu cũng đang thúc đẩy hợp tác với ASEAN để đa dạng hóa chuỗi cung ứng, trong đó tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, hydrogen xanh, chip bán dẫn, nghiên cứu và phát triển, trí tuệ nhân tạo…
Đặc biệt, bà Hà nhấn mạnh rằng theo Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức, 90% doanh nghiệp Đức mong muốn tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Hà Lan và Bỉ cũng đang gia tăng đầu tư, chủ yếu trong các lĩnh vực công nghệ và năng lượng tái tạo.
Theo các chuyên gia kinh tế, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn chính: trước năm 1995, từ năm 1995 đến 2007, và từ 2007 đến nay.
Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội thông qua tăng vốn đầu tư xã hội, gia tăng ngân sách nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu; đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cân bằng thương mại, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, gia tăng dự trữ ngoại hối và duy trì chính sách tiền tệ ổn định.
Ngoài ra, FDI còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh, tạo hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong chất lượng và hiệu quả thu hút FDI, như sự mất cân đối về địa bàn, lĩnh vực và đối tác đầu tư. Sự liên kết giữa khu vực FDI với các khu vực khác trong nền kinh tế còn lỏng lẻo, hiệu ứng lan tỏa về năng suất và công nghệ chưa đạt kỳ vọng.
Thêm vào đó, các mặt trái trong thu hút và sử dụng FDI vẫn chậm được khắc phục, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.
Để FDI đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp chính: cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, ổn định; thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo như trí tuệ nhân tạo, chuỗi cung ứng thông minh, năng lượng tái tạo và công nghệ xanh; phát triển kinh tế xanh và bền vững thông qua các dự án công nghiệp xanh, năng lượng sạch, và đô thị bền vững. Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển các khu vực có cơ chế chính sách đặc thù và lĩnh vực tài chính số, tài chính xanh.
Thanh Cao