Dòng vốn lớn từ các tập đoàn nước ngoài tiếp tục đổ vào các doanh nghiệp Việt và mở ra một hướng phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế có độ mở cao và có dấu hiệu bắt đầu vơi dần những lợi thế sẵn có. Tuy nhiên, chất lượng dòng vốn ngoại và nền tảng kinh tế cơ bản để đón nhận dòng vốn hiệu quả hơn đang là vấn đề mà nhiều chuyên gia lo ngại.
Vốn ngoại liên tiếp đầu tư vào ông lớn Việt
Sau hơn 2 năm đàm phán, cuối cùng ngân hàng BIDV chính thức phát hành riêng lẻ hơn 603,3 triệu cổ phần cho nhà đầu tư ngoại KEB Hana Bank (Hàn Quốc), thu về gần 20.300 tỉ đồng.
Dòng vốn này ghi nhận mức kỷ lục trong các thương vụ M&A ngành ngân hàng, nhưng nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc cũng phải "nhường ngôi" cho nhà đầu tư Trung Quốc, Hongkong và Singapore đang tăng tốc mạnh mẽ từ đầu năm đến nay.
Cũng trong năm 2019, Tập đoàn Vingroup của tỷ phú Phạm Nhật Vượng đã thực hiện thành công thương vụ M&A có giá trị nhất lên tới 1 tỷ USD sau khi bán cổ phần cho tập đoàn năng lượng SK của Hàn Quốc.
Vingroup cũng thu về 400 triệu USD từ phát hành cổ phần ưu đãi (giá gần 111 ngàn đồng/cp) cho Công ty quản lý quỹ Hanwha của Hàn Quốc, một trong 3 công ty quản lý tài sản hàng đầu tại nước này.
Chảy vào tập đoàn lớn và kỳ lân Việt.
Trước đó, trong năm 2018, Vinhomes - đơn vị quản lý mảng bất động sản của Tập đoàn Vingroup của ông Phạm Nhật Vượng cũng đã hút được 1,35 tỷ USD từ các nhà đầu tư ngoại trong phiên chào sàn hôm 17/5.
Một ông lớn khác, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam - Techcombank (TCB) trong năm 2018 ghi nhận thương vụ bán cổ phần khủng cho các nhà đầu tư nước ngoài, tổng cộng thu về khoảng 920 triệu USD.
Masan Group bán cổ phiếu quỹ trị giá 470 triệu USD cho Tập đoàn SK Group của Hàn Quốc và bán 52 triệu cổ phần trị giá 200 triệu USD cho quỹ GIC của Chính phủ Singapore.
Chỉ trong 2 năm qua, dòng tiền cả chục tỷ USD đã được các nhà đầu tư trong khu vực đổ vào các tập đoàn hàng đầu của Việt Nam, không chỉ Vingroup, Masan, mà còn cả VietJet (VJC) của nữ tỷ phú USD Nguyễn Thị Phương Thảo, PAN Group của ông Nguyễn Duy Hưng, FPT của ông Trương Gia Bình, Vinamilk,...
Riêng Vingroup, trong năm 2018 huy động được 4,2 tỷ USD, còn tính từ 2013 tới nay, tập đoàn của ông Phạm Nhật Vượng đã thực hiện 17 giao dịch huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài với tổng số tiền huy động được lên đến 7,6 tỷ USD.
Thống kê của Cục đầu tư nước ngoài cho thấy trong 10 tháng đầu năm, giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạt 10,8 tỉ đô, tăng 70,5%. Nếu loại trừ 3,85 tỉ đô của thương vụ Sabeco thì giá trị tăng 10% so với cùng kỳ.
Điểm nhấn thị trường đầu tư còn nằm ở thị trường chứng khoán, được nhiều chuyên gia nhận xét là một trong những thị trường tăng trưởng tốt nhất trong khu vực. Theo đó, chỉ số VN-Index tăng 4,9% trong quí 3-2019 và tăng 11,7% trong 9 tháng đầu năm, theo Công ty quản lý quỹ Vietcombank (VCBF). Chỉ số này cũng phá vỡ mốc 1.000 điểm, là mốc tâm lý kéo dài trong khoảng thời gian qua.
Báo cáo cuối tháng 10 của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia vào cuối tháng 10 cho biết, lũy kế từ đầu năm, khối ngoại mua ròng 1,88 tỉ đô trên thị trường chứng khoán, bao gồm 1,23 tỉ đô cổ phiếu và 650,4 triệu đô trái phiếu.
Nhiều điều đáng lo ngại
Theo VCBF, trong số 14 quốc gia cận biên được Bloomberg xếp hạng, Việt Nam xếp thứ 2 về tăng trưởng, động lực tăng trưởng (môi trường kinh doanh và cơ hội trong nền kinh tế kỹ thuật số) so với rủi ro (nợ nước ngoài, ảnh hưởng của chiến tranh thương mại và suy thoái kinh tế Trung Quốc).
Những ngày vừa qua, trong phiên họp gần nhất, Quốc hội Việt Nam đã thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2020. Theo đó, chỉ tiêu tăng trưởng GDP đặt ra ở mức 6,8%, tức ở mức tương đương với con số kỳ vọng đạt được trong năm 2019, dù cho tăng trưởng trong 3 quí đầu năm ghi nhận mức kỷ lục.
Điều này cho thấy phần nào các khó khăn được dự báo trước. Kinh tế Việt Nam đạt được nhiều điểm sáng nhưng tăng trưởng trong năm sau sẽ rất khó khăn”, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương nhận xét trên Thời báo kinh tế Sài Gòn online.
Dù vậy, bên cạnh những yếu tố vĩ mô tích cực, các chuyên gia đồng thời cũng lo ngại về biến động thế giới và các vấn đề nội tại của kinh tế Việt Nam.Hiện nay, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn từ các hiệp định thương mại tự do đã và đang được đẩy mạnh ký kết với các thị trường lớn. Đầu tư vào Việt Nam không chỉ là thị trường trăm triệu dân, mà còn là thị trường thế giới, TS. Thành nhận định.
Chẳng hạn, số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm lại vào cuối quí 3, trong đó đặc biệt là số đơn đặt hàng trong lĩnh vực dệt may cũng giảm. Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tháng 9 giảm về mức 50,5 điểm.
Báo cáo của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho thấy chỉ số tồn kho bình quân trong 9 tháng đầu năm tăng 17,2% so với cùng kỳ, tiếp tục xu hướng tăng từ năm 2018. “Điều này tiềm ẩn rủi ro về đình trệ sản xuất tạm thời và doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất”, báo cáo nhận định.
Tương tự, báo cáo cập nhật vĩ mô của Công ty chứng khoán SSI trong 10 tháng đầu năm cho thấy nhiều ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã tăng trưởng chậm lại, dù chỉ số công nghiệp chế biến chế tạo được duy trì đi ngang nhờ sự cải thiện của công nghiệp điện tử.
Tăng trưởng thương mại toàn cầu cũng đang chậm lại thấy rõ, khi nhìn vào tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Theo đó, trong 9 tháng đầu năm, tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI chỉ đạt 5%, thấp hơn nhiều so với con số 16,2% của khối doanh nghiệp trong nước.
“Tăng trưởng toàn cầu chậm lại đang là rủi ro hàng đầu cho xuất khẩu hàng hóa Việt nam và số liệu hàng tháng đang cho thấy tác động ngày một rõ ràng của rủi ro này. Dự báo năm 2020 tăng trưởng toàn cầu tiếp tục thấp và vì vậy xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế Việt nam sẽ còn nhiều thách thức”, công ty chứng khoán SSI nhận định.
Với thị trường chứng khoán, dù có nhiều điểm nhấn tăng trưởng nhưng các chuyên gia cho rằng thanh khoản thị trường vẫn chưa dồi dào, chưa ổn định và chưa có các định chế tài chính lớn để trở thành trụ cột. Thêm nữa, Việt Nam vẫn chưa lọt vào danh sách nhóm thị trường mới nổi.
Một trở ngại khác là sự tăng giá của các yếu tố đầu vào như giá thuê đất tăng, lao động tăng, hạ tầng logistic chưa đồng bộ sẽ gây tắc nghẽn lưu thông hàng hóa, trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm chạp. Điều này phụ thuộc nhiều vào các nhà quản lý. “Các hiệp định thương mại hay cơ hội từ thương chiến chỉ phát huy hiệu quả khi nút thắt về hạ tầng và nguồn lực được tháo gỡ”, báo cáo của SSI Research nhận định.
Đinh Hiệu(T/H)