09:40 07/09/2026

Vốn ưu đãi tìm đường vào các động lực tăng trưởng

Hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn ưu đãi đang được các ngân hàng đưa ra thị trường sau yêu cầu giảm lãi suất của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ được đo bằng quy mô các gói tín dụng mà còn phụ thuộc vào khả năng đưa vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng dự án và đúng thời điểm.

Hàng loạt gói tín dụng lớn được kích hoạt

Bốn ngân hàng thương mại nhà nước đã dành tổng cộng khoảng 220.000 tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng những ngành, lĩnh vực giữ vai trò động lực của nền kinh tế.

Agribank triển khai gói tín dụng lớn nhất, trị giá 70.000 tỷ đồng, thực hiện từ tháng 8/2026 đến năm 2028. Khách hàng đáp ứng điều kiện được hưởng mức lãi suất thấp hơn từ 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn tại ngân hàng. BIDV, Vietcombank và VietinBank mỗi ngân hàng bố trí 50.000 tỷ đồng, với mức giảm khoảng 1%/năm so với lãi suất thông thường.

Khối ngân hàng thương mại cổ phần cũng nhanh chóng mở rộng nguồn vốn ưu đãi. LPBank dành 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, áp dụng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. SHB bổ sung gói tín dụng 2.000 tỷ đồng, giảm từ 0,5-0,7%/năm so với mặt bằng hiện hành.

Dòng vốn này không được phân bổ dàn trải mà tập trung vào những khu vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn. Đối tượng được ưu tiên gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp và hộ sản xuất, kinh doanh hoạt động trong nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, chế biến, chế tạo, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn và các dự án thuộc danh mục xanh.

Việc các ngân hàng cùng lúc mở rộng hạn mức, giảm lãi suất cho thấy nỗ lực chia sẻ chi phí tài chính với doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế cần thêm động lực tăng trưởng. Song nguồn vốn rẻ chỉ phát huy tác dụng khi được sử dụng hiệu quả, tạo ra sản phẩm, việc làm, doanh thu và dòng tiền trả nợ.

Ông Phạm Toàn Vượng, Tổng Giám đốc Agribank cho biết, để có dư địa giảm lãi suất, ngân hàng đã chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, cân đối lại nguồn vốn và xây dựng chính sách phù hợp với từng nhóm khách hàng.

Với gói tín dụng 70.000 tỷ đồng, Agribank hướng nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh và đầu tư, nhất là những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Mức lãi suất giảm từ 1-2%/năm được kỳ vọng giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí tài chính, bổ sung vốn lưu động, mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, ưu đãi lãi suất không có nghĩa các tiêu chuẩn cấp tín dụng được hạ thấp. Agribank vẫn ưu tiên những phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, có thị trường đầu ra, dòng tiền trả nợ rõ ràng; đồng thời quản trị rủi ro theo ngành nghề, danh mục và chuỗi giá trị.

Theo ông Phạm Toàn Vượng, tăng trưởng dư nợ phải luôn gắn với chất lượng tín dụng. Vấn đề quan trọng không chỉ là chuẩn bị được bao nhiêu vốn mà còn phải xác định vốn sẽ đi vào dự án nào, doanh nghiệp nào và tạo ra hiệu quả ra sao. Một khoản vay chỉ thực sự đóng góp cho tăng trưởng khi được hấp thụ bởi phương án kinh doanh có khả năng tạo giá trị, hình thành dòng tiền ổn định và bảo đảm năng lực trả nợ lâu dài.

Ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị ACB cũng cho rằng, yêu cầu căn cơ hiện nay là khơi thông dòng vốn và dẫn vốn đến khu vực trực tiếp tạo ra giá trị cho nền kinh tế. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được tiếp thêm nguồn lực, các khoản nợ tồn đọng cần sớm được xử lý và những nguồn lực đang bị ách tắc phải được giải phóng.

Cùng với việc hỗ trợ các động lực truyền thống, chính sách cũng cần tạo hành lang cho những lĩnh vực tăng trưởng mới như tài sản số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là những khu vực có nhiều tiềm năng nhưng thường thiếu dữ liệu lịch sử, tài sản bảo đảm và cơ chế định giá rủi ro phù hợp.

Vốn ưu đãi tìm đường vào các động lực tăng trưởng
Hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn ưu đãi đang được các ngân hàng đưa ra thị trường sau yêu cầu giảm lãi suất của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. 

Không thể chỉ trông chờ vào lãi suất thấp

Quy mô các gói tín dụng đã được mở rộng, nhưng khả năng hấp thụ vốn vẫn phụ thuộc lớn vào tình trạng pháp lý của dự án và sức khỏe thực tế của doanh nghiệp.

Đối với các dự án hạ tầng, năng lượng, khu công nghiệp, nhà ở xã hội và công trình xanh, điểm nghẽn phổ biến nằm ở thủ tục đầu tư, đất đai, quy hoạch và cấp phép. Ngân hàng có thể chuẩn bị sẵn hạn mức nhưng không thể giải ngân nếu dự án chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý hoặc chưa đáp ứng điều kiện vay vốn.

Vì vậy, muốn vốn tín dụng sớm đi vào nền kinh tế, các thủ tục liên quan đến dự án phải được tháo gỡ đồng thời. Nếu khâu pháp lý tiếp tục kéo dài, nguồn vốn dù có lãi suất hấp dẫn vẫn có thể nằm chờ trong ngân hàng, còn doanh nghiệp không thể triển khai dự án đúng tiến độ.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, trở ngại lại chủ yếu xuất phát từ nội lực. Nhiều đơn vị chưa có hệ thống sổ sách kế toán đầy đủ, quản trị dòng tiền còn yếu, tài sản bảo đảm hạn chế và thông tin tài chính thiếu minh bạch. Những bất cập này khiến ngân hàng khó đánh giá chính xác khả năng trả nợ, trong khi doanh nghiệp khó đáp ứng các điều kiện để được hưởng vốn ưu đãi.

Do đó, bên cạnh sự hỗ trợ từ hệ thống tín dụng, bản thân doanh nghiệp cần chuẩn hóa hoạt động quản trị, minh bạch báo cáo tài chính, số hóa dữ liệu và xây dựng phương án kinh doanh có đầu ra rõ ràng. Một hồ sơ tốt không chỉ giúp rút ngắn thời gian xét duyệt mà còn tạo cơ sở để ngân hàng áp dụng mức lãi suất phù hợp hơn.

Về phía các tổ chức tín dụng, quy trình cho vay cần tiếp tục được đơn giản hóa, thời gian xử lý hồ sơ phải được rút ngắn và tiêu chí thẩm định cần linh hoạt hơn. Thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tài sản thế chấp, ngân hàng có thể tăng cường đánh giá dựa trên dòng tiền, dữ liệu giao dịch, đơn hàng, hợp đồng đầu ra và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.

Dẫu vậy, lãi suất thấp chưa chắc đủ sức thúc đẩy nhu cầu vay nếu doanh nghiệp vẫn khó tìm đầu ra cho sản phẩm. Khi thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, đơn hàng giảm hoặc khả năng thu hồi vốn chưa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ thận trọng mở rộng sản xuất dù chi phí vay đã giảm.

Bởi vậy, chính sách tín dụng cần được triển khai cùng các giải pháp thúc đẩy đầu tư công, mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ đổi mới công nghệ và nâng cao sức mua. Khi đầu ra được cải thiện, doanh nghiệp mới mạnh dạn vay vốn và ngân hàng cũng có thêm cơ sở để giải ngân.

Một gói tín dụng lớn mới chỉ tạo ra điều kiện ban đầu. Để dòng tiền thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần đồng thời tháo gỡ thủ tục pháp lý, nâng cao năng lực của doanh nghiệp, đổi mới cách thẩm định và củng cố thị trường tiêu thụ. Khi những mắt xích này cùng được khơi thông, vốn ưu đãi mới có thể chảy đúng địa chỉ và tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.

Thanh Cao