Một trong những giải pháp được ông Mã Thanh Danh - Chủ tịch Công ty cổ phân Tư vấn quốc tế đưa ra là DN nên liệt kê xem tài sản còn lại những gì. Đối với DN đang kinh doanh tốt nhưng trái chủ yêu cầu mua lại thì có thể dùng nguồn tiền mặt để mua, giúp giải tỏa bớt áp lực. Nếu không đủ tiền, DN có thể đi vay thêm hoặc thế chấp một phần trái phiếu với lãi suất cao hơn để vay.
Tiềm năng phát triển của thị trường TPDN rất lớn
Trong giai đoạn 2018-2021, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm. Năm 2020, tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam chiếm 15% so GDP, trong khi các nước rất cao, như Thái Lan (22,7%), Singapore (36,5%) và Malaysia (54,3%)…
Từ tháng 3/2022, thị trường TPDN tăng trưởng chậm lại nhằm chờ đợi Nghị định sửa đổi 153/NĐ-CP/2020, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư cũng như nâng cao chất lượng của thị trường vốn.
Ảnh minh họa
Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, lũy kế 10 tháng của năm 2022, thị trường có 23 đợt phát hành trái phiếu ra công chúng với giá trị 10.599 tỷ đồng (chiếm 4% tổng giá trị phát hành) và 413 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ trị giá 240.761 tỷ đồng (chiếm 96% tổng giá trị phát hành).
So với cùng kỳ năm trước, giá trị trái phiếu phát hành ra công chúng đã giảm 56% và giá trị phát hành riêng lẻ giảm 51%. Một số chuyên gia cho rằng, nguyên nhân chính là do các vấn đề mất niềm tin từ một số vụ việc liên quan đến sai phạm pháp lý của nhà phát hành trái phiếu.
Theo đánh giá chung, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn được xem là giai đoạn mới phát triển. So với những nước trong khu vực như Singapore và Malaysia, tổng giá trị phát hành vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ.
Do đó, tiềm năng phát triển của thị trường này vẫn còn rất lớn, đặc biệt sau khi cơ quan quản lý nhà nước đã có những quy định sửa đổi với mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư cũng như nâng cao chất lượng của thị trường vốn.
Tại hội thảo “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Niềm tin và giải pháp” vừa được tổ chức mới đây tại TPHCM, các chuyên gia cho rằng, kênh huy động vốn qua TP, một trong các cấu phần của thị trường vốn cùng với kênh tín dụng và kênh cổ phiếu, đã đóng vai trò quan trọng trong việc khai thông nguồn vốn cho sự phát triển của doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua việc một số DN phát hành TP trái luật, sử dụng vốn sai mục đích bị cơ quan chức năng mạnh tay xử lý, khiến niềm tin nhà đầu tư giảm sút. Điều này khiến khối lượng TPDN phát hành mới sụt giảm, khối lượng mua lại trước hạn tăng mạnh.
Ngoài ra, khó khăn chung của ngành bất động sản và các tin đồn tiêu cực trên thị trường tài chính liên quan đến một số tập đoàn, DN lớn cũng khiến kênh huy động vốn trái phiếu trở nên hạn chế, thiếu sức sống.
Nêu ý kiến về những vấn đề liên quan đến thị trường TPDN, chuyên gia kinh tế, TS Đinh Thế Hiển cho biết, quy mô thị trường TPDN năm 2020 tương đương 15,1% GDP và 10,3% tổng dư nợ tín dụng. Điều này cho thấy kênh huy động vốn qua trái phiếu doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc khai thông nguồn vốn cho sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam.
Năm 2019, lãi suất trái phiếu ở mức hợp lý, khoảng 8,5%, còn lãi suất vay ngân hàng 9-10%, lãi suất huy động 6-7%. Sang năm 2020-2022, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp đã vượt xa lãi suất ngân hàng nên có phần rủi ro. Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư vẫn nhận thấy xứng đáng để họ mua trái phiếu doanh nghiệp.
Theo ông Hiển, nếu xét về quan hệ "thu nhập - rủi ro" thì lãi suất trái phiếu doanh nghiệp ở mức 14%/năm như hiện nay là không cao. Ngay như các công ty tài chính cho vay tiêu dùng tín chấp thấp nhất cũng tới 24%/năm. Ngoài ra, bản chất của lãi suất 14%/năm mà doanh nghiệp chấp nhận được là do họ khó tiếp cận tín dụng dù có tài sản thế chấp. Chưa kể, do giai đoạn 2020-2022 nền kinh tế cũng như doanh nghiệp thâm dụng vốn rất lớn, trong đó công ty bất động sản và xây dựng bình quân 7 đồng vốn mới tạo ra 1 đồng lợi nhuận vì không bán được hàng, không có doanh thu nên khó chồng khó.
"Do khó khăn dòng tiền nên hiện nay, có doanh nghiệp đã chấp nhận vay 3%/tháng, thậm chí có nơi chịu lãi suất đến 4%/tháng để duy trì hoạt động và có thế chấp hẵn hoi chứ không phải là vay tín dụng đen. Vì thế, việc huy động trái phiếu doanh nghiệp không tín chấp 14%/năm không phải là quá cao" - ông Đinh Thế Hiển nhấn mạnh.
Áp lực trái phiếu đáo hạn một phần có nguyên nhân từ các công ty chứng khoán và ngân hàng. Các tổ chức này để bán được trái phiếu, họ hứa với NĐT sẽ mua lại trong 3 - 6 tháng sau khi phát hành. Đến khi trái chủ yêu cầu mua lại thì họ không mua hoặc không đủ năng lực mua. Nhưng nếu đẩy trách nhiệm này cho nhà phát hành thì không đúng quy định, bởi thời hạn phát hành thường ít nhất là 1 năm.
DN cần giải tỏa áp lực trái phiếu đáo hạn
Tại hội thảo, ông Mã Thanh Danh - Chủ tịch Công ty cổ phần Tư vấn quốc tế, đề xuất 3 nhóm giải pháp để giúp DN giải tỏa áp lực trái phiếu đáo hạn. Theo đó, thứ nhất, DN nên liệt kê xem tài sản còn lại những gì. Đối với DN đang kinh doanh tốt nhưng trái chủ yêu cầu mua lại thì có thể dùng nguồn tiền mặt để mua, giúp giải tỏa bớt áp lực. Nếu không đủ tiền, DN có thể đi vay thêm hoặc thế chấp một phần trái phiếu với lãi suất cao hơn để vay.
Ông Mã Thanh Danh - Chủ tịch Công ty cổ phần Tư vấn quốc tế
Thứ hai, với tình hình kinh doanh ổn định, DN có thể thương lượng trực tiếp với trái chủ để họ chờ đến hạn. Trường hợp trái chủ nhất quyết yêu cầu mua lại, DN có thể thương lượng để trái chủ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu. Cụ thể như việc Citi Bank đồng ý chuyển đổi trái phiếu Novaland thành cổ phiếu NVL với giá 85.000 đồng/cổ phiếu, trong khi thị giá NVL chỉ hơn 20.000 đồng/cổ phiếu.
Với những DN có tài chính không đủ mạnh hoặc kinh doanh kém khả quan, yêu cầu mua lại trái phiếu thực sự là áp lực không nhỏ. Vì vậy, DN cần chuẩn bị một kế hoạch tái cấu trúc rõ ràng để thương lượng với trái chủ. Nếu không được, DN buộc phải bán các tài sản mình đang có để thanh toán với các trái chủ. Đó có thể là đất đai, thương hiệu, hệ thống phân phối…
Thứ ba, DN cần tính đến phương án tham gia thị trường mua bán nợ. Tuy nhiên, các công cụ mua bán nợ tại thị trường Việt Nam hiện vẫn chưa phổ biến. Đồng thời, nếu có một thị trường trái phiếu thứ cấp hoạt động bài bản, thì các trái chủ khi cần bán lại sẽ giao dịch trực tiếp trên thị trường này, giảm bớt áp lực cho DN…
Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Luật sư Phạm Ngọc Hưng, do các NĐT chưa hiểu rõ về trái phiếu và đơn vị phát hành nên sẽ dễ ngậm ‘‘trái đắng’’. Một số đơn vị phát hành che giấu thông tin và mục đích thật sự của việc phát hành trái phiếu, trong khi thông tin về tài sản bảo đảm của DN phát hành cũng mập mờ khiến NĐT cũng cảm thấy mơ hồ theo.
Do đó, ông Hưng kiến nghị, điều quan trọng là phải xét đến vai trò môi giới của ngân hàng và công ty chứng khoán. Họ môi giới với mục đích sinh lời thì phải chịu trách nhiệm khi cung cấp thông tin không đầy đủ cho khách hàng, nên cần phải có hành lang pháp lý chặt chẽ hơn.
Hà Yên