11:20 23/01/2023

3 thay đổi lớn về cách các doanh nghiệp quản lý chuỗi cung ứng

Sau 3 năm chống chọi với đại dịch Covid-19, thế giới vẫn tiếp tục cho thấy những khó khăn chồng chất khi nhiều dự báo đưa ra rất ‘u ám’. Vậy, các doanh nghiệp phải thay đổi thế nào để thích ứng và tìm nguồn cung ứng sản phẩm hiệu quả hơn trong bối cảnh mới với đầy rẩy khó khăn, thách thức.

3 thay đổi lớn về cách các doanh nghiệp quản lý chuỗi cung ứng
Các công ty đang xây dựng lại chuỗi cung ứng của họ để bớt phụ thuộc vào Trung Quốc và các tàu container khổng lồ chạy qua các đại dương. Ảnh: AP/Stephen B. Morton

Các chuỗi cung ứng toàn cầu mà các công ty hiện đại đang phụ thuộc đã bị đảo lộn 3 năm trước sau khi COVID-19 xuất hiện ở Trung Quốc. Sự lây lan của căn bệnh hô hấp mới và những nỗ lực làm chậm nó đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt mọi thứ, từ giấy vệ sinh và thuốc theo toa cho đến tủ lạnh và chất bán dẫn. Thậm chí ngày nay, các nhà bán lẻ vẫn tiếp tục đấu tranh để giữ một số sản phẩm, bao gồm cả đồ gia dụng như Tylenol và trứng trong kho. Sau 3 năm vật lộn với đại dịch, căng thẳng tổng thể trong chuỗi cung ứng vẫn còn cao.

Bởi vì tình trạng thiếu hụt, chậm trễ và tắc nghẽn có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ, nhiều công ty không bị phá sản trong đại dịch đã suy nghĩ lại về chuỗi cung ứng của mình và thực hiện các thay đổi để giúp họ trở nên kiên cường hơn trong bối cảnh mới. Theo Giáo sư Quản lý về chuỗi cung ứng tại Đai học Đông Bắc (Anh), bà Nada R.Sanders, có 3 sự thay đổi lớn trong cách các công ty quản lý chuỗi cung ứng, và những thay đổi này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến người tiêu dùng cũng như bản thân các doanh nghiệp.

Đưa chuỗi cung ứng về trong nước

Một trong những nhược điểm chính của việc có chuỗi cung ứng trải rộng trên toàn cầu là chúng dễ bị tổn thương hơn trước các vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty. Chẳng hạn như động đất tấn công nhà cung cấp chính hoặc phong tỏa toàn thành phố khiến các nhà máy phải đóng cửa…

Đó là lý do tại sao các công ty trong mọi ngành đang nỗ lực di dời các nhà cung cấp và cơ sở sản xuất về gần nhà hơn hoặc phân bổ chúng ra xa hơn về mặt địa lý để họ không quá phụ thuộc vào một quốc gia hoặc khu vực. Mục tiêu là để đảm bảo họ có thể chịu được sự gián đoạn và duy trì hoạt động kinh doanh liên tục.

Tốc độ reshoring - quá trình chuyển sản xuất và chế tạo từ các nhà máy ở nước ngoài về các địa điểm trong nước đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo một cuộc khảo sát được thực hiện vào đầu năm 2022, hơn 60% các công ty sản xuất của châu Âu và Hoa Kỳ dự kiến ​​sẽ chuyển một phần hoạt động sản xuất sang châu Á của họ trong ba năm tới.

Một cuộc khảo sát gần đây hơn cho thấy ngành vận tải và sản xuất của Hoa Kỳ đã tạo ra khoảng 350.000 việc làm vào năm 2022, tăng 25% so với năm trước.

Xu hướng này không chỉ nhận được sự hỗ trợ từ các khoản trợ cấp của chính phủ mà còn từ các nhà bán lẻ. Walmart, một trong những nhà bán lẻ lớn nhất thế giới đã cam kết giúp các nhà cung cấp của mình phục hồi bằng cách tăng mua các sản phẩm do Mỹ sản xuất thêm 350 tỷ USD trong thập kỷ tới.

Tại Vương quốc Anh, một cuộc khảo sát với 750 doanh nghiệp nhỏ cho thấy cứ 5 doanh nghiệp thì có 2 doanh nghiệp đang cân nhắc chuyển sang các nhà sản xuất trong nước để tránh gián đoạn do COVID-19 và chi phí vận chuyển cao.

Đồng thời, các công ty khác đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung của họ, thường là từ Trung Quốc, quốc gia cho đến gần đây vẫn thường xuyên phong tỏa toàn bộ các thành phố để duy trì chính sách không có COVID-19 hiện đã hết hiệu lực. Ấn Độ và Việt Nam là những điểm đến phổ biến.

Ví dụ, Apple có trụ sở tại Hoa Kỳ, thất vọng vì sự chậm trễ sản phẩm ở Trung Quốc, nơi sản xuất 98% iPhone của họ, gần đây đã bắt đầu sản xuất các mẫu ở Ấn Độ. Ngoài ra, Foxconn, nhà cung cấp lớn nhất của hãng, đã đồng ý mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Nhìn chung, các đơn đặt hàng sản xuất của Hoa Kỳ từ Trung Quốc đã giảm 21% kể từ tháng 8 năm 2022.

Tại châu Âu, nhà sản xuất ô tô Volvo vào tháng 7 đã công bố kế hoạch mở nhà máy châu Âu đầu tiên sau 60 năm tại Slovakia. Và các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ, Mexico và Canada đang gặp nhau để thảo luận về các cách khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào khu vực, điều này có thể dẫn đến nhiều người chuyển ra nước ngoài hơn.

3 thay đổi lớn về cách các doanh nghiệp quản lý chuỗi cung ứng
Những cảnh như thế này trở nên phổ biến trong đại dịch. Ảnh: AP/John Raoux

Đầu tư vào công nghệ nhiều hơn

Một trong những vấn đề lớn nhất khi đại dịch COVID-19 bắt đầu là các công ty thường không biết chuyện gì đang xảy ra với các nhà cung cấp của họ do công nghệ kém. Ví dụ: trước đại dịch, hơn 50% công ty không liên lạc hoặc biết vị trí của tất cả các nhà cung cấp của họ, điều đó khiến việc dự đoán tình trạng thiếu hụt trở nên khó khăn.

Kể từ đó, các công ty đã học được, nếu họ chưa biết, rằng việc có thể thấy điều gì đang xảy ra dọc theo chuỗi cung ứng của họ là rất quan trọng để tránh và thích nghi với sự gián đoạn. Và các công nghệ kỹ thuật số hiện đại là chìa khóa để biến điều này thành hiện thực.

Điều này bao gồm mọi thứ từ phần mềm hiện đại để giao tiếp tốt hơn với nhà cung cấp đến điện toán đám mây để lưu trữ dữ liệu hiệu quả, các công cụ trí tuệ nhân tạo để đưa ra quyết định tốt hơn và rô-bốt để tự động hóa các quy trình.

Theo tư vấn chiến lược của Tập đoàn Hackett, việc triển khai những công nghệ mới này là ưu tiên lớn nhất của các công ty trên toàn cầu trong năm 2022.

Từ 'đúng lúc' đến ‘đề phòng'

Một trong những tiến bộ tuyệt vời của chuỗi cung ứng trong những thập kỷ gần đây là triết lý quản lý của Nhật Bản được gọi là “đúng lúc”.

Mặc dù bản chất của triết lý là loại bỏ lãng phí, nhưng các doanh nghiệp đã kịp thời giảm thiểu ý tưởng có lượng hàng tồn kho thấp hoặc thậm chí bằng không. Điều đó có nghĩa là mang càng ít đồ đạc trong kho càng tốt để giảm thiểu chi phí lưu trữ, tối đa hóa hiệu quả và mang lại lợi nhuận cao hơn. Miễn là không có sự gián đoạn, hệ thống vẫn hoạt động.

Tuy nhiên, đúng lúc khiến các doanh nghiệp dễ bị tổn thương trước những gián đoạn nhỏ. Chuỗi cung bị gián đoạn do đại dịch gây ra khi hầu hết mọi thứ đã bị khuếch đại đáng kể, khiến cho ngay cả một trục trặc cũng có khả năng trở thành một vấn đề lớn.

Các công ty hiện đang lo sợ về sự thiếu hụt đang tiến tới việc mang theo nhiều hàng tồn kho hơn. Kể từ khi đại dịch bắt đầu, nhiều người đã chuyển từ mô hình “đúng lúc” sang mô hình “đề phòng”. Mặc dù có nhiều hàng tồn kho hơn sẽ khiến các công ty ít có khả năng gặp phải tình trạng thiếu hàng hơn, nhưng nó cũng tốn kém hơn vì có thể dẫn đến nhiều hàng tồn kho dư thừa và sản phẩm trở nên lỗi thời trước khi chúng được bán.

Nhưng xu hướng này, giống như những xu hướng khác, khó có thể thay đổi sớm bất chấp chi phí tăng cao mà chúng sẽ phải chịu. Trong hầu hết các trường hợp, những chi phí này sẽ được chuyển cho người tiêu dùng với giá cao hơn, đây có thể là tin xấu đối với những người tiêu dùng vốn đang mệt mỏi với lạm phát.

Theo conversation

Thái Đạt (dịch)