14:52 25/04/2023

Bài 1: ‘mua kỳ nghỉ dưỡng cao cấp’ nhiều biến tướng khiến người tiêu dùng không còn mặn mà, mất dần thiện cảm

Mô hình "Mua kỳ nghỉ dưỡng cao cấp' (mô hình timeshare) Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn sơ khởi, do đó cần có sự tham gia của các chủ đầu tư uy tín để phát triển. Tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam mô hình này có nhiều biến tướng khiến người tiêu dùng không còn quá mặn mà.

Người tiêu dùng không mặn mà với mô hình “hái ra tiền”

Mô hình timeshare xuất hiện đầu tiên trong ngành du lịch Pháp vào năm 1960 nhưng phải đến năm 1974, khi tổ chức trao đổi kỳ nghỉ RCI (Resort Codominiums International) ra đời tại Mỹ, timeshare mới thực sự phát triển và được hiểu theo hai cách: sở hữu kỳ nghỉ hay còn gọi là trao đổi kỳ nghỉ.

Sự hấp dẫn của mô hình này ngày càng được nhiều người đón nhận, nó lan rộng khắp châu Âu và châu Mỹ và nhanh chóng trở thành xu hướng du lịch mới được nhiều du khách lựa chọn.

Đến nay, RCI đã trở thành tập đoàn trao đổi kỳ nghỉ lớn nhất thế giới với 3,8 triệu thành viên, quản lý hơn 4.500 resort cao cấp ở khắp các châu lục.

Không chỉ tại các nước Âu, Mỹ, timeshare cũng nở rộ ở khu vực Đông Nam Á. Theo báo cáo của C9 Hotelworks (công ty chuyên tư vấn bất động sản và dịch vụ nghỉ dưỡng), ước tính có khoảng 500.000 resort, khách sạn tại Đông Nam Á đã áp dụng hình thức timeshare, tập trung chủ yếu ở Thái Lan và Indonesia.

Với ưu điểm đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng như quyền sở hữu, lưu trú tại các khu nghỉ dưỡng cao cấp, quyền trao đổi với các resort tương đương trong cùng một chương trình, timeshare ngày càng nhận được sự tham gia của nhiều khách hàng.

Mặc dù xuất hiện ở các nước khá lâu nhưng tại Việt Nam timeshare lại mới xuất hiện, khái niệm này còn rất mới mẻ. Mặc dù là một ngành “hái ra tiền” nhưng khi du nhập vào Việt Nam, mô hình này đã bị biến tướng, khiến người tiêu dùng không còn quá mặn mà, mất dần thiện cảm.

Đã nhiều dự án “gắn mác” timeshare nhưng thực chất là bán hẳn căn hộ, biệt thự cho khách hàng. Sau đó chủ sở hữu nếu không có nhu cầu sử dụng thường xuyên sẽ giao cho chủ đầu tư để thuê lại. Hình thức này không thể coi là timeshare được, thực chất là hình thức bán căn hộ.

Không những vậy, một số doanh nghiệp đã dùng chiêu trò bán dịch vụ timeshare “ảo” khi dự án nghỉ dưỡng vẫn chưa hình thành, thậm chí vẽ dự án khiến cho khách hàng mất niềm tin và không hiểu đúng về timeshare.

Như trường hợp của anh Nguyễn Văn B. (Thanh Trì, Hà Nội) từ mua gói nghỉ dưỡng hạng bạc, trị giá hơn 80 triệu đồng (thời hạn 20 năm), để gia đình có suất nghỉ dưỡng 8 ngày 7 đêm mỗi năm vào tháng 5 và 6 ở Cocobay Đà Nẵng. Nếu không sử dụng hết gói, có thể nhượng lại cho người khác.

Bài 1  Người tiêu dùng không mặn mà ‘mua kỳ nghỉ dưỡng cao cấp’ do nhiều biến tướng
Timeshare du nhập vào Việt Nam nhưng có quá nhiều biến tướng nên nhiều người không còn mặn mà.

Thế nhưng, khi sử dụng anh T mới nhận ra, gói nghỉ dưỡng này có chi phí phát sinh đi kèm quá cao, riêng phí duy trì thường niên là 5 triệu đồng, dịch vụ thì nghèo nàn, chứ không như những gì phía công ty quảng cáo.

“Tôi cảm thấy thất vọng và không muốn sử dụng dịch vụ nữa nên đã bán lại gói ưu đãi nhưng vì giá không cạnh tranh nên không ai mua. Như vậy gói dịch vụ mà tôi mua gần như bị bỏ phí” – Anh T. cho biết thêm.

Có những người cuốn theo “bánh vẽ” của đội ngũ tư vấn viên đã bỏ ra hàng chục triệu, thậm chỉ cả vài trăm triệu đồng để mua gói dịch vụ nghỉ dưỡng ven biển. Anh Ngô Quốc Hòa (Hà Đông, Hà Nội) cũng là một trong nhiều trường hợp ngậm “đái đăng”  khi quyết định sử dụng gói dịch vụ nghỉ dưỡng “sa hoa” này.

Mặc dù điều kiện ăn ở, du lịch, quyền lợi ở gói này cao cấp hơn nhiều so với trường hợp của anh B. Sau khi mua, hai vợ chồng anh Hòa tính toán lại thì mới thấy mình bị “hớ nặng”, vì dịch vụ không tương xứng với những gì mình bỏ ra.

Cố tình biến tướng tạo nên sự nhập nhằng của pháp lý

Có thể thấy để có được gói “sở hữu kỳ nghỉ”, khách hàng đã phải bỏ ra số tiền không hề nhỏ. Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường là kinh doanh về nghỉ dưỡng hay bất động sản.

Đồng thời, người mua có quyền sử dụng bất động sản đó trong một khoảng thời gian thường là 7 ngày/năm liên tục trong nhiều năm với mức giá được quy định tại hợp đồng.

Cụ thể, nhiều khách hàng đã phản ánh rằng, dù họ đã thanh toán nhiều đợt cho phía doanh nghiệp với trị giá lên tới hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng nhưng họ vẫn chưa được sử dụng dịch vụ kỳ nghỉ như doanh nghiệp cam kết. Khi cảm thấy không hài lòng hay thậm chí cảm thấy là mình đã bị lừa, khách hàng muốn chấm dứt hợp đồng và hoàn trả lại tiền thì thường bị doanh nghiệp gây khó dễ và tìm cách trì hoãn.

Chiêu trò của những doanh nghiệp này thường là tổ chức nhiều cuộc hội thảo hoành tráng, đưa ra những lời chào mời cực kỳ hấp dẫn như: đi du lịch Châu Âu miễn phí 1 tuần, đi xuyên Việt, được ở những khách sạn hạng sang trọn đời.

Sau đó, khách hàng sẽ được mời vào phòng riêng để tư vấn. Đối với những khách hàng còn tỏ ra do dự thì sẽ có lãnh đạo cấp cao hơn tư vấn để tạo niềm tin.

Bài 1  Người tiêu dùng không mặn mà ‘mua kỳ nghỉ dưỡng cao cấp’ do nhiều biến tướng
Những hình ảnh khách sạn, resort sang chảnh kèm lời quảng cáo khó lòng bỏ qua để “dụ” người mua.

Ngay khi tư vấn thành công, họ đưa hợp đồng cho khách hàng ký trong khoảng thời gian rất chóng vánh. Nhiều người vì thế đã không đọc kỹ những điều khoản có trong hợp đồng. Trong một số trường hợp nhân viên giới thiệu sản phẩm sai mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng...

Đến khi xảy ra tranh chấp, khách hàng khiếu nại tới cơ quan có thẩm quyền thì lại không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ thể khiến họ bị đuối lý. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng sự chủ quan của khách hàng đã đưa ra những điều khoản không rõ ràng, gây bất lợi cho họ. Bên cạnh đó thì lại có những nội dung miễn trừ trách nhiệm cho công ty.

Có nhiều khách hàng cảnh giác hơn, đã yêu cầu nhân viên công ty bán gói “sở hữu kỳ nghỉ” cho mình xem nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, các nhân viên này đều lấy cớ là phải đóng hết tiền mới có thể ra được hợp đồng. Tin vậy nên nhiều người đã ký mà không hề biết được rằng, các điều khoản trong hợp đồng đa số đều gây bất lợi cho khách hàng.

Thực tế thời gian vừa qua, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công thương) đã nhận được rất nhiều phản ánh từ người dân. Có nhiều trường hợp, sau khi hai bên ký kết hợp đồng nhiều năm, dù đã thanh toán nhiều đợt có trị giá lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng cho phía doanh nghiệp, nhưng khách hàng vẫn không được sử dụng dịch vụ kỳ nghỉ như cam kết.

Nhiều người yêu cầu được chấm dứt hợp đồng, hoàn trả tiền thì bị doanh nghiệp gây khó dễ, thậm chí không hoàn trả.

Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã đưa ra khuyến cáo tới người dân, cần hiểu rõ “sở hữu kỳ nghỉ” không phải là bất động sản theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên bán trong hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ chỉ là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, cụ thể là dịch vụ lưu trú.

Bên cạnh đó, trước khi mua gói nghỉ dưỡng, người tiêu dùng cần tìm hiểu kỹ điều khoản hợp đồng, không chỉ nghe “cam kết miệng”. Đặc biệt, phải xem xét kỹ quyền lợi của khách hàng; trách nhiệm của doanh nghiệp liên quan; điều khoản về giá trị hợp đồng và các loại chi phí; điều khoản về chấm dứt hợp đồng; điều khoản về xử lý vi phạm…

Quang Anh