11:00 25/06/2025

Bài học xót xa từ sự dễ dãi với nông sản thô

Giữa lúc các doanh nghiệp chế biến trong nước lao đao vì thiếu nguyên liệu, thì hàng loạt dừa tươi lại ồ ạt xuất khẩu thô ra nước ngoài. Một nghịch lý đáng báo động, không chỉ với ngành dừa mà còn là lời cảnh tỉnh cho nhiều ngành nông sản khác khi tầm nhìn ngắn hạn và chính sách quản lý lỏng lẻo đang khiến chúng ta tự làm khó chính mình.

Những nghịch lý đang lặp lại trong nông sản Việt

Ghi nhận trong hạ tuần tháng 6/2025, giá dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tăng kỷ lục: dừa khô lên tới 215.000 đồng/chục, gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước, dừa xiêm xanh 175.000–185.000 đồng/chục, và dừa tươi bán lẻ 15.000–17.000 đồng/trái.

Tuy nhiên, giữa “cơn sốt” giá, hàng loạt nhà máy chế biến dừa rơi vào cảnh thiếu nguyên liệu trầm trọng, buộc phải giảm công suất hoặc hoạt động cầm chừng.

Nguyên nhân được chỉ ra là do nguồn cung dừa sụt giảm bởi hạn mặn, sâu bệnh và đặc biệt là tình trạng xuất khẩu thô nguyên liệu ngày càng gia tăng. Theo Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre, khoảng 40–50% sản lượng dừa của địa phương đang được xuất khẩu dưới dạng thô, chủ yếu sang Trung Quốc.

Trong khi đó, để duy trì hoạt động, các doanh nghiệp trong nước buộc phải nhập khẩu ngược dừa từ Indonesia với chi phí cao, một nghịch lý khó tin trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia trồng dừa hàng đầu khu vực.

Không riêng gì dừa, thực trạng “xuất thô thiếu nguyên liệu và phải nhập ngược” đang âm ỉ xảy ra ở nhiều ngành hàng nông sản khác.

Với sắn, từng có giai đoạn Việt Nam xuất khẩu mạnh tinh bột sắn và lát sắn sang Trung Quốc khiến nguyên liệu trong nước khan hiếm, buộc các nhà máy chế biến cồn, thức ăn chăn nuôi phải cạnh tranh thu mua với giá cao, gây biến động thị trường.

Với điều, nhiều doanh nghiệp chế biến sâu đã từng phải dừng hoạt động hoặc chuyển sang gia công cho nước ngoài, vì phần lớn điều thô được xuất đi ồ ạt trong các đợt giá cao, khiến ngành chế biến trong nước không đủ nguyên liệu ổn định để sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng.

Với cao su, tình trạng xuất khẩu mủ thô thay vì phát triển công nghiệp cao su kỹ thuật cũng từng khiến nhiều nhà máy sản xuất săm lốp, sản phẩm công nghiệp phụ thuộc lớn vào nhập khẩu hoặc thiếu ổn định về giá đầu vào.

Thậm chí với gạo, một trong những ngành chiến lược, Việt Nam cũng từng rơi vào tình trạng “xuất gạo cấp thấp – nhập gạo cao cấp”, do không kiểm soát được chất lượng vùng nguyên liệu lúa đặc sản phục vụ chế biến sâu.

Tất cả cho thấy một mô hình phát triển chưa bền vững: nặng về xuất khẩu nguyên liệu thô, thiếu chiến lược giữ nguồn cho chế biến, và chưa có chính sách đồng bộ để phát triển chuỗi giá trị khép kín.

Như cảnh báo của ông Cao Bá Đăng Khoa, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, nếu không sớm điều chỉnh chính sách, ngành dừa và nhiều ngành nông sản khác sẽ tiếp tục lặp lại vòng xoáy “giá cao – xuất thô – thiếu nguyên liệu – nhập ngược – mất năng lực chế biến”. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà là thách thức chính sách cấp thiết cho nông nghiệp Việt Nam.

Các doanh nghiệp trong nước buộc phải nhập khẩu ngược dừa từ Indonesia với chi phí cao, một nghịch lý khó tin trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia trồng dừa hàng đầu khu vực.

Bài toán chính sách nông sản thô

Không chỉ Indonesia  quốc gia đang chuẩn bị áp thuế 80% với dừa thô để giữ nguyên liệu cho chế biến trong nước mà nhiều nước như Philippines, Malaysia cũng đã sớm có chính sách hạn chế xuất khẩu dừa nguyên liệu. Trong khi đó, Việt Nam lại đang “xuất khẩu mạnh, nhập khẩu ngược”, khiến các nhà máy chế biến nội địa khốn đốn vì thiếu nguyên liệu.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp từ Ấn Độ, Israel, Pakistan và cả Thái Lan đã chuyển hướng sang nhập dừa từ Việt Nam, thay vì từ Indonesia, do lợi thế giá. Điều này càng cho thấy, nếu không siết lại chính sách, Việt Nam sẽ tiếp tục là “nguồn nguyên liệu rẻ” cho thế giới, còn doanh nghiệp trong nước thì mất cơ hội phát triển chế biến sâu.

Nghịch lý ấy không chỉ tồn tại trong ngành dừa. Với ngành sắn, mặt hàng mà Việt Nam hiện đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2025, cả nước đã xuất khẩu gần 2 triệu tấn sắn và sản phẩm sắn (trị giá hơn 600 triệu USD).

Thế nhưng phần lớn vẫn là sắn lát, sắn tươi, tức xuất thô. Trong khi đó, nhiều nhà máy chế biến tinh bột trong nước, đặc biệt ở Tây Ninh là vùng trồng sắn lớn thứ 2 cả nước phải tạm ngừng hoặc hoạt động cầm chừng vì thiếu nguyên liệu.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra với hồ tiêu. Dù là nước xuất khẩu hồ tiêu số 1 thế giới, nhưng chỉ trong nửa đầu tháng 6/2025, Việt Nam đã phải nhập gần 4.000 tấn hồ tiêu để phục vụ chế biến. Sự thiếu hụt nguyên liệu trong nước đang khiến các nhà máy vừa chịu chi phí cao hơn, vừa mất dần năng lực cạnh tranh.

Từ dừa, sắn đến hồ tiêu điểm chung là mô hình xuất khẩu nguyên liệu thô vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi công nghiệp chế biến không đủ sức trụ lại vì thiếu nguồn. Nếu chỉ chăm chăm vào tăng trưởng xuất khẩu mà bỏ qua bài toán giữ lại nguyên liệu và đầu tư giá trị gia tăng, Việt Nam sẽ tiếp tục phải trả giá bằng việc nhập khẩu chính sản phẩm thô mình từng bán đi.

Do đó, khâu chính sách không thể đứng ngoài cuộc. Đã đến lúc cần có những điều chỉnh mạnh mẽ  từ cơ chế thuế, hạn ngạch xuất khẩu thô, đến quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến để ngăn chặn tình trạng “tự làm yếu mình” trong chuỗi giá trị nông sản.

Quang Anh