15:10 06/04/2023

Cần có chính sách, cơ chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận, thích ứng với công nghệ mới

Tại Tọa đàm “Cuộc CMCN 4.0 và cơ hội cho ngành bán lẻ Việt Nam” do Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) tổ chức, Luật sư Trần Xuân Tiền đã có những chia sẻ về quy định pháp luật hiện hành đối với ngành bán lẻ, những bất cập về chính sách và trong việc thực hiện quy định pháp luật về ngành bán lẻ trong chuyển đổi số 4.0...

Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, có tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội, và ngành bán lẻ cũng không phải là lĩnh vực nằm ngoài xu hướng này. Câu chuyện chuyển đổi số trong ngành bán lẻ đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi đây thực sự là một ngành dịch vụ nhiều tiềm năng phát triển, mang lại lợi ích đáng kể cho nền kinh tế nước nhà. Trên thực tế, thị trường bán lẻ của Việt Nam những năm gần đây cũng đang dần mở rộng đa dạng các loại hình, đặc biệt ở các thành phố, đô thị phát triển. Môi trường kinh doanh trên thị trường bán lẻ ngày càng thuận lợi, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia trao đổi, mua bán có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành bán lẻ, những đóng góp của dịch vụ này không chỉ dừng lại ở việc góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân và lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Mà với vai trò là khâu kết nối giữa sản xuất - tiêu dùng, sự vận hành ổn định và không ngừng phát triển của ngành bán lẻ còn có ý nghĩa quan trọng đối với các ngành sản xuất các loại hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng (cả ở góc độ sản phẩm đầu ra, các yếu tố đầu vào và tỷ suất lợi nhuận). Hay nói một cách khái quát, sự phát triển của ngành bán lẻ không chỉ có ý nghĩa với chính nó mà còn góp phần kéo theo sự phát triển của hầu hết các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế. 

Tham gia vào xu hướng tất yếu của quá trình chuyển đổi số, trong đó có ngành bán lẻ, chúng ta đã có những chuyển đổi về công nghệ số rất rõ ràng và đạt được những kết quả tích cực. Việt Nam là một thị trường có nhu cầu mua sắm bán lẻ rất cao, đồng thời với sự bùng nổ của xu hướng mua sắm online và các loại hình thanh toán điện tử ngày càng phát triển mạnh mẽ đã tạo một tiền đề rất tốt cho công cuộc chuyển đổi số của ngành bán lẻ. 

Cần có chính sách cơ chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thích ứng với công nghệ mới
Luật sư Trần Xuân Tiền phát biểu tại Tọa đàm “Cuộc CMCN 4.0 và cơ hội cho ngành bán lẻ Việt Nam”.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong ngành bán lẻ tại Việt Nam không chỉ có các cơ hội mà còn gặp nhiều khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp, đặc biệt là việc ứng dụng các nền tảng công nghệ số trong hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và tối ưu hoá chi phí.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong ngành bán lẻ tại Việt Nam không chỉ có các cơ hội mà còn gặp nhiều khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp, đặc biệt là việc ứng dụng các nền tảng công nghệ số trong hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và tối ưu hoá chi phí. Bài viết bao gồm các nội dung: quy định pháp luật hiện hành đối với ngành bán lẻ, xu hướng chính trong quá trình chuyển đổi số đối với hoạt động kinh doanh bán lẻ, những bất cập về chính sách và trong việc thực hiện quy định pháp luật về ngành bán lẻ trong chuyển đổi số 4.0.

Chính sách pháp luật đối với hoạt động bán lẻ

Về khái niệm bán lẻ, Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về vấn đề này. Trong đó, tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định này quy định: “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức khác để sử dụng vào mục đích tiêu dùng”. Theo đó, có thể hiểu bán lẻ là mô hình kinh doanh thương mại tập trung, hướng vào đối tượng chính là người tiêu dùng cá nhân với khả năng mua hàng số lượng ít. Khách hàng trong ngành bán lẻ là người tiêu dùng cuối hay thường được gọi là End Customer. 

Về chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động bán lẻ, theo quy định pháp luật hiện hành, ngành bán lẻ là ngành nghề kinh doanh thông thường, chịu sự điều chỉnh của 02 hệ thống pháp luật: một là, pháp luật chung về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của chủ thể kinh doanh; hai là hệ thống pháp luật riêng về hoạt động bán lẻ. 

Hệ thống pháp luật chung điều chỉnh hoạt động của chủ thể kinh doanh sẽ điều chỉnh 2 nhóm vấn đề chính liên quan đến việc gia nhập, tổ chức hoạt động kinh doanh và liên quan đến hoạt động kinh doanh trên thị trường. Trong đó có thể kể đến các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật dân sự; Luật doanh nghiệp; Luật Thương mại; Luật đầu tư; Luật Hợp tác xã; Luật cạnh tranh; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Theo các văn bản pháp luật này, để có đủ điều kiện hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh bán lẻ trên thị trường, chủ thể kinh doanh phải làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp/hợp tác xã/cơ sở kinh doanh cá thể theo thủ tục áp dụng chung đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh khác và làm thủ tục đầu tư (nếu dự án thuộc diện phải làm thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư – phụ thuộc vào quy mô, yêu cầu về sử dụng đất do Nhà nước giao đất/cho thuê đất và nguồn gốc vốn đầu tư).

Ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các quy định chung áp dụng đối với hoạt động kinh doanh, hoạt động bán lẻ còn chịu sự điều chỉnh của một số văn bản pháp luật chuyên ngành. Trong đó, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh gồm 2 nhóm: áp dụng cho tất cả các chủ thể bán lẻ (Nghị định 59/2006/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 43/2009/NĐ-CP) và áp dụng riêng đối với chủ thể bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài (Nghị định 09/2018/NĐ-CP, Thông tư 08/2013/TT-BCT).

Như vậy, hệ thống pháp luật chung và riêng điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh bán lẻ đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, an toàn và phù hợp để nhà bán lẻ có thể gia nhập thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động bán lẻ có thể vận hành bình thường, đảm bảo sự kiểm soát ở mức độ thích hợp của nhà nước, lợi ích của nhà bán lẻ cũng như các lợi ích công cộng liên quan. 

Chuyển đổi số ngành bán lẻ và những xu hướng chính trong chuyển đổi số ngành bán lẻ

Chuyển đổi số ngành bán lẻ là việc doanh nghiệp chuyển dịch từ mô hình kinh doanh tập trung vào sản phẩm theo chuỗi cung ứng sang hướng tập trung vào khách hàng, dựa trên dữ liệu theo chuỗi kỹ thuật số. Nói cách khác, đây thực chất là việc doanh nghiệp bán lẻ chuyển đổi phương thức bán hàng, vận hành, quản lý từ hình thức bán hàng truyền thống sang hình thức mới là ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số hiện đại và tập trung sâu vào trải nghiệm của khách hàng.

Hoạt động kinh doanh nói chung và bán lẻ nói riêng từ trước đến nay luôn phụ thuộc nhiều vào thói quen và sức mua của người tiêu dùng. Riêng đối với lĩnh vực bán lẻ, từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát đã phải chịu sự biến đổi liên tục do thói quen tiêu dùng thay đổi, lượng khách mua hàng tại các cửa hàng sụt giảm nghiêm trọng, một phần do việc áp dụng các chính sách về giãn cách xã hội. Vì thế, chuyển đổi số ngành bán lẻ trở thành yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

Mặt khác, một điều rõ ràng là thị trường bán lẻ có tính cạnh tranh rất cao, bất kể quy mô công ty lớn hay nhỏ, sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh bán lẻ của doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc chính vào tốc độ chuyển đổi số ngành bán lẻ của doanh nghiệp đó. 

Những bất cập và rủi ro pháp lý đối với ngành bán lẻ trong thời kỳ chuyển đổi số 40

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, nhiều nhà bán lẻ trên thế giới đã phải đóng cửa vì không thích nghi được với thời đại số hoá mới; ngược lại, các nền tảng bán hàng trực tuyến với trải nghiệm mua sắm tại nhà đã thực sự bùng nổ và trở thành những gã khổng lồ trong lĩnh vực bán lẻ, điển hình là Amazon, Alibaba, Shopee …

Theo đó, việc chuyển đổi số đối với hoạt động kinh doanh bán lẻ thường được thực hiện theo các xu hướng chính như

- Chuyển đổi kênh bán hàng truyền thống sang kênh bán hàng hiện đại: chuyển từ cửa hàng/quầy bán hàng/điểm bán trực tiếp khác sang xây dựng kênh bán hàng online trên các trang mạng xã hội, website, sàn thương mại điện tử

- Quy trình vận hành có sự cộng tác với dịch vụ số hóa: thanh toán điện tử, dịch vụ giao hàng tận nơi, tích điểm điện tử, mã khuyến mãi,

- Quản trị và chăm sóc khách hàng tự động: sử dụng dữ liệu điện toán đám mây, phần mềm quản lý khách hàng để thu thập, chăm sóc và quản lý tự động.

- Ứng dụng giải pháp công nghệ để quản trị và vận hành doanh nghiệp: sử dụng những phần mềm cung cấp giải pháp quản lý hàng hóa, bán hàng tự động, quản lý nhân sự, tài chính, hoạt động marketing,…

Bất cập về chính sách và trong việc thực hiện quy định pháp luật về ngành bán lẻ trong chuyển đổi số

Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang trở nên sôi động, nhất là đối với khối kinh tế tư nhân và các khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo thống kê, tính đến cuối năm 2021, cả nước có khoảng 870.000 doanh nghiệp đang hoạt động; hơn 26.000 hợp tác xã với tổng số 6,8 triệu thành viên, 2,5 triệu lao động và hơn 5,1 triệu hộ kinh doanh. Trong đó phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh nêu trên đã ứng dụng các phần mềm, giải pháp vào hoạt động quản lý bán hàng, bán hàng trực tuyến, đa kênh, tiếp thị, quản lý quan hệ khách hàng, quản trị kênh phân phối.

Nắm bắt được xu thế tất yếu của quá trình chuyển đổi số đối với doanh nghiệp, đặc biệt là những khó khăn, vướng mắc đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ chuyển đổi số với các chủ thể này. Cụ thể, ngày 10/5/2022, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT ban hành Thông tư 06/2022/TT-BKHĐT hướng dẫn Nghị định 80/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), trong đó bổ sung quy định về hỗ trợ chuyển đổi số trong DNNVV.

Cụ thể, DNNVV được hỗ trợ công nghệ theo nội dung và mức hỗ trợ quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11 Nghị định 80/2021/NĐ-CP. Cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư 06/2022/TT-BKHĐT và một số quy định như: DNNVV được hỗ trợ chi phí để thuê, mua các giải pháp chuyển đổi số đã được công bố trên Cổng thông tin hoặc trang thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc trang thông tin của bên cung cấp; DNNVV đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số để đề xuất hỗ trợ phù hợp. DNNVV sử dụng bộ công cụ đánh giá mức độ chuyển đổi số đăng tải tại địa chỉ https://digital.business.gov.vn hoặc https://dbi.gov.vn hoặc do các cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV ban hành; Cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV sử dụng kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số của DNNVV để xem xét hỗ trợ phù hợp với năng lực tiếp nhận của DNNVV.

Như vậy, các quy định này sẽ góp phần quan trọng cho sự thành công của mỗi doanh nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi số 4.0. Lấy nền tảng là các ứng dụng công nghệ chuyển đổi số có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến những tổ chức hay doanh nghiệp, giúp kết nối, thu ngắn khoảng cách của các bộ phận trong doanh nghiệp; thúc đẩy hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp; tối ưu năng suất làm việc của nhân viên; gia tăng chất lượng sản phẩm; nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Mặc dù vậy, để thực hiện chuyển đổi số một cách toàn diện và thành công đối với nhiều doanh nghiệp lại không hề dễ dàng, còn nhiều bất cập cần phải giải quyết, cụ thể:

Trở ngại về nhận thức, năng lực của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa nhận thức đúng vai trò chuyển đổi số trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, cụ thể, theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp, trình độ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp, có 80% đến 90% máy móc sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam là nhập khẩu, gần 80% là những công nghệ cũ từ thập niên 1980 - 1990. Vì vậy, đổi mới là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp này.

Hạn chế về nguồn lực tài chính cho chuyển đổi số. Các dự án chuyển đổi số tốn kém rất nhiều kinh phí đầu tư, trong khi đó năng lực tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khá hạn chế. Chính vì tâm lý cho rằng chuyển đổi số tốn nhiều chi phí, lo lắng về thiếu nhân lực công nghệ, lo lắng về vấn đề bảo mật thông tin nội bộ, bí mật kinh doanh….đặc biệt là, doanh nghiệp khó khăn trong việc xác định hướng đi, lộ trình cụ thể để chuyển đổi số trong doanh nghiệp nên công tác triển khai chuyển đổi số còn khá dè dặt. 

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chỉ đủ khả năng chi trả cho sản xuất cơ bản, còn đầu tư lớn cho chuyển đổi số thì không phải doanh nghiệp nào cũng làm được ngay, bởi dễ thấy nhất là về vấn đề chi phí, tư vấn, giải pháp thực hiện,... Thậm chí, nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn ngân hàng cũng như về năng lực quản lý dòng vốn.

Hạn chế về thị trường và các giải pháp chuyển đổi số. Đứng trước những băn khoăn, lo ngại từ nguồn lực tài chính đến các điều kiện về nhân lực và cơ sở vật chất cho chuyển đổi số của các doanh nghiệp, đến nay chúng ta vẫn chưa hình thành các cơ quan, tổ chức độc lập, đóng vai trò tư vấn, đánh giá khách quan ưu, nhược điểm của các giải pháp công nghệ, giúp doanh nghiệp có đủ thông tin để đưa ra lựa chọn phù hợp. Đồng thời, quá trình phân tích, đánh giá hiệu quả của giải pháp kinh doanh số, công nghệ số và các rủi ro có thể gặp phải sẽ góp phần giúp cho các doanh nghiệp có các giải pháp tự hoàn thiện mình. 

Khung thể chế phục vụ chuyển đổi số ở Việt Nam còn cồng kềnh. Ngày 29/4/2021, Chính phủ đã ban hành Quyết định về kiện toàn và đổi tên Uỷ ban quốc gia về Chính phủ điện tử, trong đó tăng cường Uỷ ban quốc gia về chuyển đổi số, các Uỷ ban tương tự cũng được thành lập ở cấp tỉnh (Chủ tịch UBND tỉnh là người đứng đầu Uỷ ban). Tuy nhiên, đến khi đi vào thực hiện, các nhiệm vụ được nêu trong chương trình chuyển đổi số bị dàn trải, kéo theo công tác phối hợp và triển khai chính sách gặp nhiều thách thức. Hơn nữa, sự hỗ trợ của Chính phủ còn chưa mở rộng đối với các chủ thể như doanh nghiệp số/doanh nghiệp đang muốn đầu tư vào các công cụ số; đồng thời sự hỗ trợ hiện tại vẫn đang tập trung vào hoạt động nghiên cứu và phát triển thay vì chú trọng nâng cấp công nghệ và thương mại hóa công nghệ.

Thiếu hệ sinh thái thuận lợi thúc đẩy các cơ sở sản xuất kinh doanh chuyển đổi số. Hiện nay ngoài chỉ số mật độ thuê bao internet băng rộng thì các chỉ số khác trong môi trường kinh tế số tại Việt Nam còn khá khiêm tốn. Có thể kể đến như: chưa có các định hướng công nghệ trọng tâm, mang tính thương hiệu của Việt Nam thông qua các dự án nghiên cứu và đầu tư lớn; doanh nghiệp công nghệ số của Việt Nam hiện có mức đầu tư thấp vào phát triển khoa học và công nghệ để đổi mới so với các doanh nghiệp quốc tế. Chỉ riêng ngành công nghiệp công nghệ thông tin và điện tử viễn thông, tỷ lệ nội địa chỉ đạt 15% trong khi tỷ lệ nội hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam năm 2017 là 33,2%, năm 2018 là 36,3% (trong khi Trung Quốc là 68%, Thái Lan là 57%).

Tóm lại, xu hướng chuyển đổi số toàn diện là yêu cầu tất yếu của xã hội, đặc biệt là với chủ trương chuyển đổi số của Chính phủ trong những năm gần đây. Không thể phủ nhận rằng, Việt Nam vẫn còn đi sau thế giới về mặt công nghệ cũng như chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi của chuyển đổi số, các hệ thống nền tảng cơ bản. Vì vậy, để quá trình chuyển đổi số được triển khai có hiệu quả và thành công, trước hết cần có các chính sách, cơ chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận, thích ứng với công nghệ mới, thay vì tập trung vào nghiên cứu và phát triển; đồng thời đưa ra các gói hỗ trợ, chỉ dẫn, đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp nghiệp tiếp cận với nguồn tài chính và các thông tin cần thiết để phát triển kỹ năng công nghệ số một cách tối ưu.

Ngược lại, về phía doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị về tinh thần và tài chính, tạo nền móng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số; quan trọng nhất là người lãnh đạo, quản lý cần nâng cao chuyên môn về chuyển đổi số để đưa ra các quyết định hỗ trợ phù hợp và đầu tư đúng đắn cho doanh nghiệp của mình.

LS Trần Xuân Tiền - Trưởng VPLS Đồng Đội