60% dân số Việt Nam đang ở độ tuổi rất trẻ, mức độ tiêu dùng rất lớn. Nhóm dân số này luôn có nhu cầu vay từ vài triệu đồng đến vài chục triệu đồng tiêu dùng. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này lại gặp khó khăn về tài sản thế chấp và một số điều kiện khác của các ngân hàng (NH) thương mại. Từ đó, cho vay ngang hàng ngày càng phát triển, giải quyết nhu cầu vay tiền không cần tài sản thế chấp (tín chấp).
 |
| P2P giải quyết định nhu cầu vay vốn không cần tài sản thế chấp |
P2P Lending tiềm ẩn nhiều rủi ro
Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước mô hình này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các bên tham gia, có thể gây ra mất ổn định kinh tế xã hội do các bên có liên quan không trả được nợ; để lại những hệ lụy kéo dài, hết sức nặng nề mà nhiều nước trên thế giới đã phải trả giá thời gian qua.
Ở Việt Nam, gần đây đã xuất hiện một số công ty cung ứng dịch vụ tương tự như mô hình các công ty vận hành P2P Lending trên thế giới. Thực tế hoạt động của mô hình này trong thời gian qua cho thấy vẫn còn tồn tại như việc quảng cáo không minh bạch về mức lợi nhuận, không cung cấp hoặc cung cấp thông tin thiếu chính xác về các rủi ro mà các bên tham gia có thể gặp phải, đưa ra mức lãi suất cao phi thực tế để lôi kéo người cho vay tham gia.
Số liệu của NH Nhà nước cho thấy có khoảng 40 công ty P2P hoạt động tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, một số công ty P2P đã biến tướng thành đơn vị huy động vốn đa cấp để lừa đảo hoặc đơn vị cung cấp công nghệ đóng vai trò trung gian lại chính là người cho vay với lãi suất lên tới 700%/năm... vi phạm pháp luật về tín dụng.
Một số đối tượng ẩn danh và núp bóng giao dịch trên các nền tảng P2P Lending để trốn thuế, rửa tiền, tài trợ khủng bố; hoặc biến tướng để huy động tài chính đa cấp khiến người cho vay, người đi vay trở thành nạn nhân của hành vi lừa đảo, chiếm dụng vốn bất hợp pháp
Nhiều đối tượng cho vay nặng lãi, hoạt động tín dụng đen “núp bóng” các nền tảng P2P Lending để cho vay với mức lãi suất rất cao, vượt xa mức trần lãi suất 20%/năm của khoản tiền vay được quy định tại Điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, hoạt động P2P Lending còn tiềm ẩn rủi ro như: Thông tin cá nhân của các bên tham gia có thể bị đánh cắp do lỗ hổng bảo mật; hệ thống lưu trữ thông tin của Công ty P2P Lending có thể bị chiếm quyền kiểm soát hoặc bị đánh sập bởi hackers dẫn đến toàn bộ thông tin giao dịch của các bên bị mất hoặc xóa.
 |
| P2P còn thiếu nhiều quy định điều chỉnh của pháp luật |
Thận trọng khi tham gia các nền tảng P2P Lending
Hiện lãi suất cho vay của loại hình này vẫn chưa được quản lý theo đúng chuẩn mực như các tổ chức tín dụng, chưa có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng chuyên ngành, nên cho vay ngang hàng xảy ra nhiều rủi ro. Người đi vay gặp rắc rối khi bên thu hồi nợ chưa tuân thủ pháp luật. Thậm chí, người cho vay lẫn các công ty làm trung gian cũng gặp khó khăn khi họ không thu hồi được nợ từ người vay.
Thực tế, hoạt động của các công ty P2P hiện chỉ được điều chỉnh theo pháp luật dân sự. Tuy hợp đồng vay vốn được xem là hợp đồng giao dịch dân sự giữa 2 bên song các điều khoản trong hợp đồng về cơ bản chưa đáp ứng được chuẩn mực tối thiểu của pháp luật.
Chính vì thế mới đây, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao NH Nhà nước soạn thảo Quyết định của Thủ tướng, bao gồm các nội dung quản lý rủi ro, thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của bộ, ngành liên quan đến mô hình P2P.
Giải pháp trước mắt là NHNN và các bộ, ngành nên chọn lọc một số doanh nghiệp cung cấp công nghệ tài chính (fintech) giàu tiềm năng để triển khai thí điểm P2P, ban hành các quy định mang tính hỗ trợ fintech phát triển, đồng thời các quy định đó cũng phù hợp với chuẩn mực pháp luật Việt Nam. Khi các fintech tuân thủ quy định về hoạt động P2P, NH Nhà nước triển khai cho vay ngang hàng rộng rãi trên thị trường, từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý loại hình cho vay này, đem lại an toàn cho hệ thống tài chính - NH.
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận tín dụng ngân hàng, NHNN tăng cường chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nâng cao năng lực tài chính, mở rộng kênh bán hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, nhất là địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.