Đời sống - Tiêu dùng

10:05 17/12/2018

“Chống thực phẩm bẩn” hãy bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc

“Chống thực phẩm bẩn” cho đến hiện nay đã trở thành câu nói của miệng của người dân và các tầng lớp trong xã hội. Nhưng chống như thế nào, làm gì để chống thì không phải ai cũng nắm được. Nhằm góp một góc nhìn của người trong cuộc, trong cuộc, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Văn Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và ứng dụng Nông nghiệp hữu cơ (gọi tắt là Viện Nông nghiệp hữu cơ- IOA) về vấn đề này.

“Chống thực phẩm bẩn” hãy bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc
“Chống thực phẩm bẩn” hãy bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc
PV:
Thưa ông Nguyễn Văn Cường, vấn đề chống thực phẩm bẩn càng ngày càng trở thành vấn đề bức thiết trong cuộc sống thường ngày. Với cương vị là viện nghiên cứu các phương pháp tạo ra những sản phẩm an toàn cho con người và bảo vệ môi trường xin ông chia sẽ vài thông tin về vấn đề này?

Ông Nguyễn Văn Cường: Nói về vấn đề thực phẩm bẩn ở Việt Nam, có lẽ chúng ta chỉ cần gõ từ khóa “thực phẩm bẩn” trên internet có thể ra những con số khiến chúng ta giật mình. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2018, cả nước xảy ra 44 vụ ngộ độc thực phẩm với trên 1.200 người mắc, 7 trường hợp tử vong. Riêng trong tháng 6/2018, cả nước xảy ra 16 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 284 người mắc, 190 người phải nằm viện và 1 trường hợp tử vong. Còn trên báo chí vẫn nổi bật nhiều tiêu đề: Mỗi năm có 7-10 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm. Thực phẩm bẩn có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân lạm dụng chất hóa học trong canh tác nông nghiệp. Vài con số dưới đây sẽ gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm. Số liệu của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho thấy, trong 5 năm qua, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ đô la Mỹ để nhập khẩu về khoảng 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật với 4.100 loại thương phẩm khác nhau thuộc 1.643 hoạt chất hóa học để sản xuất thuốc trừ sâu hóa học… Thêm vào đó, hiện nay cả nước có khoảng 800 cơ sở sản xuất phân bón hóa học được cấp phép…

PV: Vậy các chính sách chống thực phẩm bẩn của Việt Nam đã hữu hiệu chưa, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Cường: Về chính sách, tôi thấy rằngpháp luật Việt Nam có khá nhiều quy định chế tài để ngăn chặn thực phẩm bẩn. Tuy nhiên vấn đề cốt lõi lại không nằm ở quy định pháp luật có hay hay không mà nó nằm ở cơ chế thực hiện nó. Theo tôi, việc chống thực phẩm bẩn nếu chỉ nhìn ở góc độ chế tài, hành lang pháp lý là chưa đủ mà cần phải có cái nhìn hữu cơ, và phải biết căn nguyên của thực phẩm bẩn từ đâu? Nếu nhìn từ quá trình thì thực phẩm bẩn có thể đến từ những khâu sau: Một là, từ người sản xuất nguyên liệu đầu vào (trồng cấy, nuôi, đánh bắt, thu hái...); hai là, từ khâu thu gom, vận chuyển; ba là, từ khâu chế biến, đóng gói, bảo quản và bốn là, từ khâu phân phối, tiêu thụ.

Bất cứ khâu nào trong các khâu trên cũng có thể xảy ra tình trạng gian lận và dẫn đến sản phẩm ra thị trường là “thực phẩm bẩn”. Tôi nhận thấy, chúng ta cứ nói về kiểm soát, hậu kiểm… nhưng chúng ta làm sao đủ con người, đủ máy móc có thể giám sát từng bước đi của một sản phẩm. Bất cứ một sự “thiếu thốn”, một sự lơ là nào đều có thể dẫn đến những sản phẩm không còn là thực phẩm mà là “thuốc độc” cho người dân.

“Chống thực phẩm bẩn” hãy bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc
“Chống thực phẩm bẩn” hãy bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc
PV:
Phải chăng ý kiến của ông là bất cứ sản phẩm nào đưa vào miệng cũng phải có nguồn gốc rõ ràng, kiểm soát chặt chẽ?

Ông Nguyễn Văn Cường: Tôi xin lấy một ví dụ, một người bạn của tôi, rất lâu rồi mới về quê, khi về làng thấy một bà già chất phác ngồi bán đu đủ ở đầu làng, anh xuống xe ô tô để mua 1 quả đu đủ. Khi anh về đến nhà thì chính bà cụ ấy hớt hơ hớt hải chạy đến tận nhà đòi cho bằng được quả đu đủ vừa bán. Bà cụ nói thêm: “Tưởng người lạ thì bán, chứ người làng thì không bán” vì quả đu đủ này mới chấm thuốc.

Anh bạn tôi kể lại câu chuyện này bằng một giọng đầy chua xót, anh đặt câu hỏi: “Tại sao một người nông dân chất phác hiền lành, già cả lại có thể làm cái việc của những người không có tâm như vậy?”

Bởi vì sản phẩm thực phẩm của chúng ta chưa được quản lý đến tận nguồn gốc. Mỗi người nông dân đều cho rằng mình làm vậy không ai biết, không ai truy trách nhiệm được mình. Lâu dần ý nghĩ đó trở thành bình thường. Nên hiện nay, phổ biến tình trạng “rau 2 luống, lợn 2 chuồng”; sạch thì để nhà dùng còn bẩn thì mang bán.

Do đó, việc truy xuất đến tận nguồn gốc, mỗi người sản xuất, mỗi người phân phối đều phải chịu sự giám sát của đơn vị giám sát độc lập, người tiêu dùng, cộng đồng và pháp luật. Chúng tôi gọi là phải “làm thương hiệu đến từng gốc cây”.

PV: Nhưng nhiều chuyên gia cho rằng để hàng hóa nông sản được truy xuất nguồn gốc như vậy là không dễ dàng?

Ông Nguyễn Văn Cường: Đúng là không dễ dàng, vì con cá lá rau quá rẻ, nó không khiến người ta phải chú tâm đến nó quá nhiều. Nhưng xin nói rõ, nếu không làm được truy xuất nguồn gốc thì không thể giải quyết được vấn đề thực phẩm bẩn. Do đó, theo tôi, cần phải xây dựng những thương hiệu tập thể truy xuất đến từng cá nhân. Để sản phẩm bán ra có bất cứ vấn đề gì về chất lượng, an toàn đều có thể truy đến tận người sản xuất, người trồng, tận gốc cây, truy đến cả người bán đầu vào cho những sản phẩm đó. Có như vậy, ngay cả người nông dân cũng sẽ có trách nhiệm với thương hiệu của mình. Chỉ khi có thương hiệu và có trách nhiệm người ta mới giữ gìn.

PV: Vậy xin hỏi Viện Nông nghiệp hữu cơ của ông, đã thực hiện mô hình gì để áp dụng quan điểm “muốn chống thực phẩm bẩn phải bắt đầu từ truy xuất nguồn gốc” của ông? 

Ông Nguyễn Văn Cường: Tôi xin nhắc lại “câu chuyện bà già bán đu đủ” như một ví dụ điển hình về việc này. Nếu “phải chịu trách nhiệm thì người ta sẽ bớt làm sai”. Do đó, việc tạo thương hiệu, gắn tem truy xuất nguồn gốc cũng góp phần làm giảm hiện tượng làm ẩu, làm liều, lạm dụng hóa chất, trong sản xuất nông sản. Nhưng vừa có truy xuất nguồn gốc lại vừa có người chỉ cho cách làm tốt, giám sát, kiểm chứng cách làm tốt đó, công bố cho mọi người biết về các trang trại làm tốt, tôi nghĩ rằng ở Việt Nam chưa có nhiều đơn vị làm như chúng tôi.

Hiện tại, chúng tôi đã và đang xây dựng chuỗi gà ta như vậy. Chúng tôi ký hợp đồng tư vấn giám sát với Trang trại Hải Đăng Green Farm. Chúng tôi chuyển giao cho trang trại quy trình chăn nuôi gà “VietGAP Hướng Hữu Cơ”. Chúng tôi xây dựng hệ thống công nghệ thông tin giám sát đi kèm với sự giám sát kỹ thuật của cán bộ Viện Nông nghiệp hữu cơ - IOA. Mỗi một con gà khi xuất ra khỏi trại sẽ được cán bộ của Viện gắn một mã QR code.

Hành trình của con gà đến bếp ăn, đến nhà hàng, đến người tiêu dùng cũng sẽ được hệ thống công nghệ thông tin giám sát và định danh, không có chuyện tráo đổi hàng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ truyền thông để người dân sử dụng và phản hồi đến người sản xuất và chúng tôi, để nhà sản xuất tiếp tục hoàn thiện sản phẩm.

Điều quan trọng là chúng tôi sẽ cân đối đầu ra, đầu vào, sản xuất theo đặt hàng để không có hiện tượng dư thừa quá nhiều trong sản xuất nông nghiệp như hiện nay, người nông dân sẽ bớt rủi ro, sẽ bớt phải chạy đua với năng suất bằng mọi giá.

Chúng tôi sẽ bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất, để góp phần làm minh bạch hóa sản phẩm nông nghiệp. Tôi tin rằng, khi dự án thành công sẽ có nhiều nhà hàng, người tiêu dùng ủng hộ cách làm của chúng tôi.

PV: Xin cảm ơn ông!

PV