Đại dịch Covid-19 đã khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng là cơ hội để các doanh nghiệp tự nhìn lại và làm mới mình. Chuyển đổi số đang được coi là một trong những giải pháp sống còn giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sau đại dịch. Đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.
Để có cái nhìn tổng quan về vấn đề này, Tạp chí Thương Trường đã có cuộc trao đổi với ông Tô Xuân Thao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam). Đây là đơn vị có nhiều nghiên cứu, tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp trong những năm qua.
PV: Được biết, Viện Nghiên cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ là đơn vị có những nghiên cứu chuyên sâu về doanh nghiệp và có nhiều cơ hội tiếp xúc với các doanh nghiệp. Xin ông cho biết, thực trạng của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
Ông Tô Xuân Thao: Theo số liệu thống kê, hiện Việt Nam có khoảng hơn 800.000 doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 98%, đóng góp khoảng 45% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30% và thu hút gần 60% lao động. Sự phát triển của các doanh nghiệp đã tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, qua các đợt dịch Covid-19 bùng phát, có trung bình 10.000 doanh nghiệp dừng hoạt động mỗi tháng, hầu hết trong số này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Qua đó có thể thấy, đây là một thành phần quan trọng nhưng lại dễ bị tổn thương nhất trong nền kinh tế.
Như đã nói ở trên, có tới 98% là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên doanh nghiệp Việt Nam có những thế mạnh nhất định như: Tinh thần khởi nghiệp và tính sáng tạo cao, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, dễ chuyển đổi mô hình hoạt động, có thể lựa chọn tham gia vào những lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế… Nhưng cũng chính vì là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên có nhiều điểm yếu như: Nhiều doanh nghiệp là doanh nghiệp cá nhân hoặc công ty gia đình, địa điểm sản xuất và kinh doanh nằm trong khu vực dân cư nên dễ gây ô nhiễm môi trường, khó mở rộng sản xuất… Việc điều hành doanh nghiệp chủ yếu là do các thành viên trong gia đình và không có chủ trương thu hút nhân tài tham gia cùng quản lý doanh nghiệp.
Ngoài ra, xuất phát điểm của nhiều doanh nghiệp là ít vốn. Để đầu tư mở rộng sản xuất cần vay vốn lại không có tài sản thế chấp, khiến nhiều doanh nghiệp khó có nguồn lực tài chính để phát triển.Các sản phẩm sản xuất theo quy mô nhỏ, giá thành thường cao hơn so với được sản xuất với số lượng lớn. Do đó doanh nghiệp nhỏ khó có thể cạnh tranh về giá so với các thương hiệu lớn. Cũng chính vì nguồn vốn có hạn nên nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu và thủ công. Trình độ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp. Có 80% đến 90% máy móc sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam là nhập khẩu, gần 80% là những công nghệ cũ từ thập niên 1980-1990. Ít doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh trong sản xuất và kinh doanh. Bên cạnh đó, nhiềudoanh nghiệp không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngay cả, việc sử dụng mạng xã hội và mạng internet để tiếp cận thị trường vẫn còn là điểm yếu của nhiều doanh nghiệp. Từ đó, khả năng hội nhập thị trường khu vực và thế giới còn hạn chế.
Bên cạnh đó, mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân cũng là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên, các chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng nông sản hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Mối liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà phân phối trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn lỏng lẻo, quá trình thực hiện còn lúng túng, sản phẩm chưa tiêu thụ được nhiều. Nguyên nhân là do quy mô liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị nhỏ, lẻ, phân tán, không tập trung, sản phẩm không thường xuyên. Hoạt động của các hợp tác xã, doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm còn thụ động, còn tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước, chưa có chiến lược rõ ràng, định hướng cụ thể. Hợp đồng liên kết còn nhiều bất cập…
PV: Ông đánh giá thế nào về những khó khăn của các doanh nghiệp trong thời gian chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 vừa qua?
Ông Tô Xuân Thao: Sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã khiến các doanh nghiệp thuộc tất cả các ngành nghề phải đối mặt với những thách thức, tác động tiêu cực chưa từng có trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. So với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó khăn hơn gấp bội do thiếu nguồn lực cả về tài chính, kỹ năng quản lý và công nghệ… Tác động của đại dịch đối với các doanh nghiệp nặng nề nhất là làm đứt gãy chuỗi cung ứng. Nhất là với doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực sản xuất chế biến, chế tạo…việc khan hiếm nguồn cung nguyên, phụ liệu, linh kiện đầu vào đã khiến hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ.
Dịch Covid -19 cũng tác động mạnh đến doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp. Tình trạng hàng hóa sản xuất không tìm được đầu ra, thị trường tiêu thụ hàng hóa và xuất khẩu bị giảm mạnh, trong khi đó lại phải tăng chi phí duy trì hoạt động và các chi phí phát sinh khác liên quan đếnphòng, chống dịch làm giảm doanh thu và lợi nhuận. Nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm quy mô hoạt động sản xuất - kinh doanh, cắt giảm nhân sự, hủy dự án đang hoặc sẽ thực hiện, cũng như vấp phải những rủi ro về thu hồi nợ dẫn đến mất khả năng thanh toán, thậm chí đứng trước nguy cơ phá sản…
PV: Người ta thường nói “trong khó khăn vẫn luôn có cơ hội”. Vậy thưa ông, đại dịch Covid -19 có mang lại cơ hội nào cho các doanh nghiệp không?
Ông Tô Xuân Thao: Theo tôi những tác động tiêu cực từ đại dịch Covid -19 cũng chính là cơ hội để các doanh nghiệp tự nhìn lại và làm mới mình. Đại dịch Covid-19 đã giúp các doanh nghiệp nhìn rõ tất cả những điểm yếu của mình và giúp họ nhận ra rằng nếu không thay đổi thì sẽ tự loại mình ra khỏi thị trường. Đồng thời, thực tế cho thấy, những khó khăn do Covid-19 gây ra đã mang lại cơ hội cho các “hoạt động không tiếp xúc” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và internet đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn; thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử... Đi liền với các hoạt động dựa trên nền tảng số là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin và sản xuất thiết bị phục vụ cho quá trình chuyển đổi số. Điều này giúp các doanh nghiệp dễ dàng xây dựng hệ thống quản lý quy trình sản xuất, kinh doanh và giao dịch với khách hàng thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin và thiết bị thông minh.
PV: Theo ông các doanh nghiệp cần làm gì để tiếp tục phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới?
Ông Tô Xuân Thao: Để phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong trong bối cảnh đất nước ta đang hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, sự cạnh tranh ngày càng lớn và dịch Covid-19 vẫn luôn rình rập bùng phát trở lại… các doanh nghiệp cần phải chủ động hướng đến việc củng cố, xây dựng và tăng cường chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp cũng cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề liên kết sản xuất và tiêu thụ. Tham gia vào các hệ sinh thái và chuỗi giá trị, phát huy khả năng sáng tạo và linh hoạt để thích ứng với hoàn cảnh mới, nhạy bén trong việc tận dụng các cơ hội thị trường. Cùng với đó cần phải có tư duy dám chấp nhận rủi ro, huy động tối đa nguồn lực đầu tư để cải tiến công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao trình độ quản lý để có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đặc biệt, các doanh nghiệp cần chú trọng tới việc chuyển đổi số và coi đây là giải pháp sống còn.
Các doanh nghiệp cần chú trọng tới việc chuyển đổi số và coi đây là giải pháp sống còn
PV: Ông có thể phân tích kỹ hơn về tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với doanh nghiệp và thực trạng quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay?
Ông Tô Xuân Thao: Chuyển đố số trong doanh nghiệp là việc ứng dụng các giải pháp công nghệ số vào quá trình sản xuất, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, để tạo ra những giá trị mới. Đây là sự thay đổi quan trọng, mang tính tổ chức, liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, từ chiến lược đến con người, cấu trúc tổ chức. Chuyển đổi số được đánh giá là xu hướng tất yếu, mang lại lợi ích toàn diện, giúp gia tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tối ưu năng suất lao động, kết nối giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, cũng như thúc đẩy hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới vấn đề chuyển đổi số. Năm 2020 được xác định là năm khởi động chuyển đổi số quốc gia, là năm tuyên ngôn về chuyển đổi số; năm 2021 là năm tổng diễn tập chuyển đổi số; năm 2022 và những năm tiếp theo sẽ là giai đoạn thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số ở mọi ngành, mọi cấp, trên phạm vi toàn quốc, toàn dân và toàn diện. Đầunăm 2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy ngày 10/10 hàng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Gắn với chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Dự báo, quá trình số hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam có thể đóng góp từ 24-30 tỷ USD vào GDP trong năm 2024 và góp phần vào phục hồi kinh tế hậu Covid-19.
Để tạo động lực chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, Nghị định 80/2021/ NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 26/8/2021 cũng quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ 50% giá trị hợp đồng tư vấn giải pháp chuyển đổi số với tổng giá trị không quá 50 triệu đồng/năm, đồng thời được hỗ trợ chi phí về thuê, mua các giải pháp chuyển đổi số để tự động hóa, nâng cao hiệu quả quy trình kinh doanh, quy trình quản trị, quy trình sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh doanh không quá 20 triệu đồng/năm đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 50 triệu đồng/năm đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 triệu đồng/năm đối với doanh nghiệp vừa.
Với sự hỗ trợ của Nhà nước và các cơ chế, chính sách, các doanh nghiệp cũng đã dần quan tâm nhiều hơn đến chuyển đổi số, đặc biệt là kể từ khi Covid-19 bùng phát. Một số doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ số vào các khâu như mua hàng, bán hàng, quản trị nội bộ, logistics, sản xuất và marketing. Cụ thể là các hoạt động như sử dụng thương mại điện tử, mạng xã hội, thanh toán điện tử, sử dụng các phần mềm quản lý nhân sự từ xa, quản lý sản xuất, chứng từ, kho hàng... Tuy nhiên, hiện cả nước mới chỉ có khoảng 15% doanh nghiệp đang thực hiện chuyển đổi số. Trong khi đó, còn nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều rào cản trong chuyển đổi sốnhư: Chi phí ứng dụng công nghệ số cao; thiếu cơ sở hạ tầng; lo sợ bị rò rỉ dữ liệu; khó khăn trong thay đổi tập quán kinh doanh; khó khăn trong việc tích hợp các công cụ công nghệ thông tin; các quy tắc, quy định không phù hợp với số hóa; trình độ hiểu biết của người lao động chưa cao… Nhưngrào cản lớn nhất vẫn là nhận thức và quyết tâm hành động của các lãnh đạo doanh nghiệp. Nhiềulãnh đạo doanh nghiệp hiện nay nghe nhiều, nói nhiều về chuyển đổi số nhưng chưa quyết tâm hành động. Họ thường trì hoãn việc chuyển đổi số vì những lý do như: hiện tại đang ổn; còn lúng túng, không biết làm thế nào; không sẵn sàng thay đổi hoặc sợ thay đổi… Do đó, cần thêm nhiều những chương trình tuyên truyền, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp thay đổi nhận thức và quyết tâm hành động trong công cuộc chuyển đổi số.
Những rào cảnh đối với doanh nghiệp trong việc chuyển đổi số
PV: Trước những khó khăn, thách thức của các doanh nghiệp, ông có thể cho biết thời gian qua Viện Nghiên cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có những chương trình gì để hỗ trợ doanh nghiêp phục hồi, phát triển và thực hiện chuyển đổi số?
Ông Tô Xuân Thao: Là đơn vị khoa học thực hiện chức năng chính là tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp, thời gian qua Viện Nghiên cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã chủ động tiếp cận các thông tin chính sách từ các cơ quan quản lý Nhà nước, các chương trình hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước từ đó phổ biến, tư vấn, giúp doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ, dự án, là cầu nối giúp doanh nghiệp từng bước tiếp cận, tham gia các chương trình. Điển hình như Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số từ Ngân hàng thế giới; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn với lãi suất ưu đãi từ 2,16 - 4%/năm để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị công nghệ và chuyển đổi số…
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Quang Tuấn (thực hiện)