Dù nhiều gói vay ưu đãi được tung ra, ngân hàng vẫn kén chọn khách hàng, ưu tiên doanh nghiệp lớn có nền tảng vững, khiến DNNVV khó tiếp cận vốn.
Khó tiếp cận nguồn tín dụng
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tín dụng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng rõ nét. Tính đến ngày 29/7, tín dụng toàn hệ thống đã tăng 9,8% so với cuối năm 2024 và tăng 19,75% so với cùng kỳ, đây đều là mức tăng tích cực so với những năm gần đây. Nguồn vốn tín dụng chủ yếu tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các ngành, lĩnh vực được xem là động lực của tăng trưởng kinh tế.
Đáng chú ý, ngoài các gói tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN như gói 100.000 tỷ đồng cho nông lâm thủy sản, gói 120.000 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở, gói 500.000 tỷ đồng cho hạ tầng và công nghệ số, nhiều ngân hàng thương mại cũng tung ra gói ưu đãi dành cho các nhóm khách hàng, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Thống kê từ NHNN Khu vực 15 cho thấy đến cuối tháng 6/2025, dư nợ tín dụng đối với DNNVV đạt 57.764 tỷ đồng, tăng 8,15% so với cuối năm 2024 và chiếm 12,7% tổng dư nợ toàn khu vực.
Ông Vũ Mạnh Cường, Giám đốc một doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát và thiết bị vệ sinh tại Hà Nội, chia sẻ rằng vốn là “nhựa sống của doanh nghiệp”. Được vay vốn và duy trì nguồn vốn ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Trong 10 năm đầu hoạt động, doanh nghiệp ông chỉ có một cơ sở. Nhưng sau khi tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, quy mô được mở rộng từ 20 lên 50 lao động, số cửa hàng tăng gấp năm lần, kho hàng cũng phát triển theo nhu cầu, doanh thu vì vậy tăng tám lần chỉ trong vòng một thập kỷ.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thuận lợi tiếp cận tín dụng, đặc biệt là khối DNNVV. Ông Nguyễn Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ thương mại và Sản xuất nông sản an toàn Đại Hoàng, cho biết đầu tư vào hệ thống hữu cơ tốn khoảng 300.000 đồng mỗi sào, chi phí lớn nhưng cần thời gian dài để thu hồi vốn. Đây chính là rào cản khiến doanh nghiệp khó vay vốn ngân hàng.
Công ty từng hợp tác với một đơn vị xuất khẩu để đưa nông sản ra thị trường nước ngoài. Để đáp ứng đơn hàng, công ty nhiều lần tìm đến ngân hàng xin vay mở rộng sản xuất nhưng không thành công do thiếu tài sản bảo đảm.
“Ngân hàng yêu cầu phải có phương án kinh doanh khả thi kèm tài sản thế chấp. Chúng tôi không đáp ứng được nên bị từ chối. Cuối cùng, doanh nghiệp phải dựa vào đối tác xuất khẩu, chấp nhận chia sẻ lợi nhuận và bỏ lỡ cơ hội phát triển”, ông Thiện chia sẻ.
Ảnh minh hoạ.
Vì sao doanh nghiệp vẫn loay hoay bài toán vốn?
Báo cáo “Tín dụng cho SME: Cơ hội và rủi ro” vừa được FiinGroup công bố đã phác họa bức tranh tổng quan về sức khỏe tài chính, mức độ rủi ro và khả năng tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam.
Theo số liệu, chỉ có 9,3% DNNVV vay vốn ngân hàng, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 56,1% ở nhóm doanh nghiệp lớn. Con số này phản ánh rào cản tín dụng vẫn là điểm nghẽn trong việc mở rộng sản xuất, đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Xét về khía cạnh rủi ro, nhóm DNNVV ghi nhận xu hướng gia tăng đáng kể trong giai đoạn 2022-2024, với đỉnh điểm gần 60% doanh nghiệp rơi vào diện rủi ro cao và rất cao. Đến năm 2025, bức tranh đã có phần tích cực hơn khi tỷ lệ doanh nghiệp có mức rủi ro cao trở lên giảm xuống còn hơn 40%, trong khi gần 27% được xếp vào nhóm rủi ro thấp và rất thấp.
Tuy vậy, các ngân hàng và tổ chức tài chính vẫn duy trì xu hướng chọn lọc khách hàng có thời gian hoạt động đủ lâu. Thực tế, gần 85% DNNVV có vay vốn đều đã hoạt động trên 5 năm và sở hữu hồ sơ rủi ro tốt hơn. Dù vậy, vẫn còn khoảng 40% doanh nghiệp có tuổi đời trên 5 năm, với mức rủi ro trung bình và thấp, nhưng chưa tiếp cận được vốn vay.
Thừa nhận những khó khăn này, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh hiện nay, các ngân hàng thương mại có xu hướng ưu tiên cho vay doanh nghiệp lớn.
Đây là điều dễ hiểu, bởi chính các ngân hàng cũng chịu áp lực lớn về doanh thu và lợi nhuận. Ông phân tích, ngân hàng thương mại cũng là doanh nghiệp, nên để đảm bảo hiệu quả kinh doanh, họ buộc phải chọn khách hàng có hồ sơ minh bạch và tài sản đảm bảo đầy đủ.
Cách tiếp cận này giúp ngân hàng cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và yêu cầu kiểm soát rủi ro, đồng thời duy trì sự chủ động trong kinh doanh trên nền tảng an toàn và hiệu quả, nhất là sau những biến động của thị trường trong thời gian qua.
Trước thực tế nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, ông Thân đề xuất Hiệp hội có thể đứng ra làm đầu mối xúc tiến thành lập một ngân hàng số dành riêng cho DNNVV và hộ kinh doanh.
Theo ông, với công nghệ định danh số, ngân hàng này sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn tín chấp, giảm bớt rào cản về thủ tục và lãi suất so với hệ thống ngân hàng truyền thống. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng việc thành lập và vận hành một tổ chức tín dụng là điều không hề dễ dàng, bởi cần đáp ứng nhiều quy định nhằm đảm bảo an toàn cho cả hệ thống ngân hàng và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Ở một góc nhìn khác, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, cho rằng để giảm tải gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế và phù hợp với thực trạng DNNVV, Chính phủ nên xem xét cho phép thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng ở cấp Trung ương, đồng thời khởi động lại 28 Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương.
Quang Anh