Theo ThS Lê Nhật Bảo, về quy định hoà giải tại UBND cấp xã, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã tiến bộ hơn rất nhiều khi không yêu cầu đây là quy định bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án mà chỉ dừng lại ở việc khuyến khích. Tuy nhiên, quy định về hoà giải trong Dự thảo cũng còn vài điểm chưa rõ ràng.
Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là vấn đề “nóng”, được dư luận xã hội quan tâm. Luật Đất đai năm 2013 quy định tranh chấp đất đai được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau, tùy thuộc vào từng loại tranh chấp. Trong đó, phương thức hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai bộc lộ nhiều ưu thế. Vì vậy, tại dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), quy định về phương thức hòa giải là một trong những nội dung được sửa đổi, bổ sung.
Theo đó, quy định tại Điều 224 của Dự thảo về cơ bản kế thừa quy định Điều 202 Luật Đất đai năm 2013. Với 05 khoản quy định, Điều 224 của dự thảo đã quy định một cách khái quát về phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chuyên gia vẫn còn một số vấn đề cần được làm rõ.
Góp ý về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, ông Đặng Đình Luyến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội cho biết, Điều 225 của dự thảo luật quy định: “1. Tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền khi được yêu cầu…”.
Theo ông Đặng Đình Luyến, trong điều kiện thực tiễn hiện nay ở Việt Nam mà dự thảo luật đất đai lần này chỉ giao cho Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại giải quyết các tranh chấp đất đai, mà không giao cho Ủy ban nhân dân giải quyết như trước, là không phù hợp, không khả thi và sẽ kéo dài thời gian giải quyết, mất nhiều thời gian, kinh phí cho các bên tham gia giải quyết. Nguyên nhân là do số lượng các tranh chấp đất đai hiện nay rất nhiều, chiếm một số lượng rất lớn trong xã hội, nếu nay giao hết cho Tòa án nhân dân giải quyết, thì sẽ không bảo đảm tính khả thi, vì đội ngũ thẩm phán, cán bộ của Tòa án nhân dân các cấp hiện nay còn hạn chế về số lượng, chất lượng; cơ sở vật chất, kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu cho hoạt động. Việc xét xử các vụ án, nhất là các vụ án dân sự trong thời gian vừa qua cho thấy phải qua các cấp xét xử, mất rất nhiều thời gian, có những vụ án dân sự phải giải quyết trong nhiều năm.
Vì vậy, ông Đặng Đình Luyến đề nghị nên quy định cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai theo hướng là khi có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp tổ chức hòa giải, nếu hòa giải không thành thì tùy theo tính chất, mức độ tranh chấp mà giao cho Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết; trường hợp các bên không đồng ý với quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân, thì có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp giải quyết (lần 2) hoặc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân để giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là của Tòa án nhân dân - Ảnh minh họa
Tiến sỹ Nguyễn Anh Phong, Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp nông thôn (AGROINFO), Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy: Căn cứ khoản 3 Điều 3 Luật Đất đai 2013 và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, tranh chấp đất đai là tranh chấp trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất như tranh chấp về ranh giới do hành vi lấn, chiếm,... Những tranh chấp về chuyển nhượng, tặng cho, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất không phải là tranh chấp đất đai. Tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) nơi có đất nếu muốn khởi kiện. Nói cách khác, tranh chấp đất đai không được khởi kiện luôn tại Tòa án mà phải hòa giải tại UBND cấp xã, nếu không sẽ bị trả lại đơn khởi kiện.
Thực tiễn cho thấy có nhiều tranh chấp đất đai giao cho cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân) giải quyết thì hợp lý, hiệu quả hơn, vì các cơ quan này trực tiếp quản lý, giao đất, cho thuê đất, thanh tra, kiểm tra … nên nắm rất chắc tình trạng mảnh đất có tranh chấp, các mâu thuẫn, tranh chấp đất đai và từ đó đưa ra phương án giải quyết hợp lý, chính xác, thuyết phục, sẽ được các bên dễ chấp nhận. Việc giao cho Tòa án nhân dân giải quyết các tranh chấp đất đai, thì Tòa án sẽ phải dành nhiều thời gian nghiên cứu vụ việc tranh chấp, tìm hiểu nguyên nhân tranh chấp, mảnh đất có tranh chấp và các vấn đề khác có liên quan. Còn các bên tranh chấp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, chi phí nhiều kinh phí, mất nhiều thời gian tham gia trong quá trình giải quyết, như thuê luật sư, tiến hành hòa giải, tham gia các phiên tòa, các hoạt động khác có liên quan…
Tiến sỹ Nguyễn Anh Phong đề xuất tại Điều 236 “giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai”, Dự thảo Luật cần bổ sung quy định vai trò của Tòa án trong việc xác định lại giá đất tính bồi thường. Khi yêu cầu xem xét lại giá đất, Tòa án được phép hủy bỏ giá đất trong quyết định hành chính cụ thể nếu có căn cứ cho rằng giá đất đó chưa phù hợp thị trường, vi phạm quy định về thẩm định giá đất. Tòa án sẽ xem xét lại giá đất đã được quyết định, trường hợp cần thiết Tòa án được quyền tham vấn ý kiến chuyên gia hoặc thành lập Hội đồng chuyên môn để đánh giá.
Khuyến khích hoà giải tại UBND xã trước khi khởi kiện là rất tiến bộ
Thông tin tại Hội thảo góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) diễn ra vừa qua, ThS Lê Nhật Bảo - Giảng viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Dự thảo lần này đã tiếp thu rất nhiều điểm tiến bộ, tích cực mà nhân dân góp ý. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai vẫn còn một vài điểm băn khoăn.
Theo ThS Lê Nhật Bảo, khái niệm “tranh chấp đất đai” trong Dự thảo chưa thật sự hợp lý ở nội dung “tranh chấp về nghĩa vụ của người sử dụng đất”. Bởi thông thường, người ta chỉ tranh chấp quyền, lợi ích hợp pháp chứ không ai tranh chấp việc thực hiện nghĩa vụ. Do đó, cần sửa lại quy định này theo hướng tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền của người sử dụng đất.
ThS Lê Nhật Bảo - Giảng viên Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Cũng theo ThS Lê Nhật Bảo, về quy định hoà giải tại UBND cấp xã, Dự thảo đã tiến bộ hơn rất nhiều khi không yêu cầu đây là quy định bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án mà chỉ dừng lại ở việc khuyến khích. Tuy nhiên, quy định về hoà giải trong Dự thảo cũng còn vài điểm chưa rõ ràng.
“Cụ thể như quy định tại điểm b khoản 2 Điều 224 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), thành phần hoà giải tại UBND cấp xã gồm có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác. Nhưng phạm vi “các tổ chức xã hội khác” gồm những tổ chức nào chưa được Dự thảo làm rõ, quy định này cũng không giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Do đó, tôi đề nghị cần làm rõ vấn đề này”, ThS Nhật Bảo nêu quan điểm.
Đồng tình với những nhận định về nội dung cơ chế giải quyết tranh chấp, một số ý kiến cũng cho rằng, đối với việc giải quyết tranh chấp đất đai thì Luật Đất đai năm 1993 quy định giao cho UBND các cấp. Đến Luật Đất đai năm 2013 thì mở rộng thêm cơ quan giải quyết là Tòa án.
Tuy nhiên, theo Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thì hoàn toàn thẩm quyền giải quyết là Toà án. Thế nhưng, tranh chấp đất đai là vấn đề phức tạp và hiện nay năng lực Tòa án giải quyết hết hay không? Vì theo thống kê 70% các vụ việc giải quyết về khiếu nại, tố cáo, tranh chấp là liên quan tới đất đai. Dồn hết qua Toà án liệu có được giải quyết nhanh chóng, kịp thời?
Vì vậy, góp ý hoàn thiện về nội dung đã nêu, một số ý kiến cho rằng, cần có cơ chế linh hoạt là người dân có quyền chọn lựa UBND các cấp hoặc Tòa án nếu không có giấy tờ nhà đất. Khi người dân nộp đơn lên UBND các cấp thì tiến hành hòa giải, giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kịp thời. Bởi, nguồn gốc đất, quá trình sử dụng với những biến thiên hết sức phức tạp chỉ có cơ quan hành chính mới nắm được.
Xoay quanh nội dung giải quyết tranh chấp đất đất đai, dù đồng tình với việc giải quyết tranh chấp đất đai như quy định tại Điều 225 của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), tuy nhiên, Luật sư Tô Văn Chung - thành viên Hội đồng tư vấn dân chủ, pháp luật của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trong thực tiễn, có nhiều vụ án tranh chấp đất đai kéo dài, Tòa phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ án vì UBND không cung cấp, chậm cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ hoặc không có văn bản trả lời cho Tòa án.
Vì vậy, trong trường hợp không cung cấp được tài liệu chứng cứ thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết, trong đó, ghi rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu chứng cứ. Nếu quá thời hạn mà không được cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc văn bản trả lời thì Tòa án đề nghị cơ quan quản lý cấp trên của UBND được yêu cầu chỉ đạo UBND cấp dưới thực hiện cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc trả lời bằng văn bản của Tòa án.
Đức Minh