Giá cao su hôm nay 19/8 trên các sàn giao dịch chủ chốt tại châu Á đồng loạt tăng, trong đó cao su RSS3 trên sàn TOCOM ghi nhận mức tăng mạnh nhất. Trong nước, giá thu mua mủ cao su tiếp tục ổn định. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 788.006 tấn cao su, trị giá 1,55 tỷ USD.
Giá cao su thế giới
Trên sàn TOCOM (Tokyo, Nhật Bản), giá cao su RSS3 hợp đồng giao tháng 8 đạt 478,80 Yên/kg, tăng 3,93%. Hợp đồng giao tháng 9 ở mức 450,30 Yên/kg, tăng 1,40%, trong khi hợp đồng tháng 10 đạt 436,70 Yên/kg, tăng 0,39%.
Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 nội địa giao tháng 9 đi ngang ở mức 87,5 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), giá cao su tự nhiên đồng loạt tăng. Hợp đồng tháng 8 đạt 17.065 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,15%; hợp đồng tháng 9 đạt 17.115 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,23%; hợp đồng tháng 10 đạt 17.120 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,23%.
Đối với cao su butadien, hợp đồng tháng 10 có khối lượng giao dịch lớn nhất tăng 4,48%, lên 14.120 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch SGX (Singapore), hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 9 đạt 223,30 Cent/kg, tăng 1,59%; hợp đồng tháng 10 ở mức 221,90 Cent/kg, tăng 1,70%; hợp đồng tháng 11 đạt 221,60 Cent/kg, tăng 1,56%.
Theo ông Muhammedali, chuyên gia kinh tế tại Tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), giá cao su thiên nhiên có thể tiếp tục được nâng đỡ nếu giá cao su tổng hợp neo cao do chi phí dầu thô và nguyên liệu đầu vào tăng, đặc biệt trong trường hợp El Nino làm gián đoạn sản lượng cao su thiên nhiên.
Giá cao su trong nước
Trái với diễn biến tích cực trên thị trường thế giới, giá cao su trong nước ngày 19/8 chưa ghi nhận điều chỉnh mới.
Tại Công ty Phú Riềng, giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, trong khi mủ nước ở mức 420 đồng/TSC. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước dao động 458 - 463 đồng/TSC, tương ứng loại 2 đến loại 1. Giá mủ đông tạp ở mức 404 - 459 đồng/DRC.
Công ty Bình Long thu mua cao su tại nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và tại đội sản xuất ở mức 530 đồng/TSC/kg. Giá mủ tạp DRC 60% ở mức 18.000 đồng/kg.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg, áp dụng với độ TSC từ 25 đến dưới 30. Mủ đông DRC 35 - 44% có giá 14.600 đồng/kg, trong khi mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.
Về hoạt động xuất khẩu, theo số liệu từ Cục Hải quan, trong tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu 152.081 tấn cao su, trị giá 324,2 triệu USD, tăng 33,4% về lượng và 33,6% về trị giá so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm 26,2% và trị giá giảm 3,1%.
Tính chung 7 tháng đầu năm, xuất khẩu cao su đạt 788.006 tấn, trị giá 1,55 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 12,4% và trị giá giảm 4,6%.
Giá bình quân cao su xuất khẩu trong tháng 7 đạt 2.132 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn so với tháng trước và tăng 31,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 7 tháng, giá bình quân đạt 1.965 USD/tấn, tăng gần 9% so với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam. Trong tháng 7, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này 83.930 tấn, trị giá 178,07 triệu USD, giảm lần lượt 44,7% về lượng và 26,6% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng thứ 5 liên tiếp xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm.
Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc đạt 462.714 tấn, trị giá 904,6 triệu USD, giảm 27,4% về lượng và 20,3% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường Trung Quốc chiếm 58,7% tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam, thấp hơn mức 70,8% của cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, xuất khẩu sang một số thị trường khác ghi nhận mức tăng đáng kể. Indonesia vươn lên thành thị trường xuất khẩu cao su lớn thứ hai của Việt Nam, với 59.418 tấn, trị giá 114,36 triệu USD, tăng hơn 2,5 lần về lượng và 2,6 lần về trị giá so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang Ấn Độ đạt 58.123 tấn, tăng 31,2%; Malaysia đạt 38.036 tấn, tăng 48,2%; Hàn Quốc đạt 29.035 tấn, tăng 15,8%. Mexico ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm này, với 8.149 tấn, tăng 169,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trung Anh