Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện đang ở mức thấp nhất trong nhóm 4 nước xuất khẩu hàng đầu thế giới (gồm Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan), nhưng tại Hà Nội và TP HCM, giá bán lẻ vẫn ‘neo’ ở mức cao, chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Nguyên nhân do đâu?
Giá lúa đang thấp hơn 40-50% so với năm 2024
Theo số liệu của Hiệp hội lương thực Việt Nam, hiện mỗi kg lúa thường tại ruộng chỉ ở mức bình quân 5.400 đồng một kg, lúa thơm 7.000-8.500 đồng, lúa thơm hàng tại kho giảm mạnh xuống 8.000-9.500 đồng một kg, thấp hơn 40-50% so với năm ngoái.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang duy trì ở mức dưới 400 USD/tấn, thấp nhất trong nhóm bốn nước xuất khẩu hàng đầu, gồm Ấn Độ, Thái Lan và Pakistan. Cụ thể, gạo xuất khẩu 5% tấm đang được chào bán với giá 395 USD/tấn; gạo 25% tấm đang chào bán với giá 372 USD/tấn; gạo 100% tấm đang được chào bán với giá 310 USD/tấn.
Việt Nam là một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới - Ảnh minh họa/TL.
Trong khi đó, gạo xuất khẩu của Thái Lan đang có mức giá tốt hơn. Cụ thể, gạo xuất khẩu 5% tấm đang được chào bán với giá 418 USD/tấn; gạo xuất khẩu 25% tấm đang được chào bán với giá 397 USD/tấn; gạo xuất khẩu 100% tấm được chào bán với giá 365 USD/tấn.
Tương tự, gạo xuất khẩu 5% tấm của Ấn Độ đang đứng ở mức 413 USD/tấn; gạo 25% tấm đứng ở mức 394 USD/tấn. Còn với gạo xuất khẩu 5% tấm của Pakistan đứng ở mức 402 USD/tấn; gạo 25% tấm đứng ở mức 370 USD/tấn; gạo 100% tấm đứng ở mức 337 USD/tấn.
Như vậy, nhìn chung, gạo xuất khẩu của Việt Nam đang thấp nhất trong nhóm 4 nước xuất khẩu hàng đầu, gồm Ấn Độ, Thái Lan và Pakistan.
Năm 2024, Việt Nam từng hưởng lợi khi Ấn Độ hạn chế xuất khẩu, đưa giá gạo tăng cao và xuất khẩu đạt kỷ lục 9 triệu tấn. Tuy nhiên, khi Ấn Độ dỡ lệnh cấm, thị trường đảo chiều nhanh. Nguồn cung toàn cầu tăng mạnh kéo giá giảm.
Cùng lúc, Indonesia - thị trường lớn thứ hai của Việt Nam - đẩy mạnh tự chủ lương thực, chỉ nhập khẩu nhỏ giọt. Philippines cũng hạn chế mua do tồn kho dồi dào. Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo sang Indonesia tháng 1 chỉ đạt 651 tấn, giảm 98% so với cùng kỳ năm trước, kéo giá gạo trong nước giảm sâu.
Nguyên nhân nào khiến giá gạo trong nước vẫn cao?
Dù giá gạo xuất khẩu lao dốc, giá bán lẻ trong nước vẫn neo cao. Tại TP HCM, gạo nở giữ mức 17.000 đồng một kg, gạo thơm Mỹ 19.000 đồng, gạo nàng hoa, tám bắc, thái sữa dao động 23.000-24.000 đồng một kg, gần như không đổi so với đỉnh giá năm ngoái. Ở Hà Nội, giá lài nhật ở mức 22.000 đồng một kg, tám điện biên 19.000 đồng, tám thái 20.000 đồng, trong khi ST25 dao động 25.000-30.000 đồng tùy vùng trồng...
Nguyên nhân giá gạo trong nước vẫn ‘neo’ ở mức cao chủ yếu là do chuỗi cung ứng gạo nội địa có độ trễ nhất định so với thị trường xuất khẩu. Một số chủ cửa hàng gạo tại quận Đống Đa (Hà Nội), cho biết họ đã nhập hàng từ khi giá cao nên chưa thể điều chỉnh ngay, khi nguồn hàng cũ tiêu thụ hết họ mới nhập lô mới với giá thấp hơn, khi đó, giá bán lẻ mới giảm dần.
Giá gạo trong nước vẫn ‘neo’ ở mức cao chủ yếu là do chuỗi cung ứng gạo nội địa có độ trễ nhất định so với thị trường xuất khẩu - Ảnh minh họa/TL.
Trong khi đó, theo các doanh nghiệp gạo, các chi phí liên quan như vận chuyển, lưu kho, nhân công đều tăng khiến giá gạo bán ra thị trường khó giảm nhanh. Bên cạnh đó, hao hụt trong quá trình bảo quản cũng là yếu tố khiến nhiều cửa hàng phải giữ giá. Về phía các siêu thị chủ yếu tập trung vào phân khúc gạo trung và cao cấp, vốn ít biến động. Hơn nữa, các hợp đồng cung ứng giữa siêu thị và nhà phân phối thường dài hạn, có độ trễ, khiến giá bán lẻ ít bị tác động ngay khi giá gạo nguyên liệu giảm.
Các doanh nghiệp trong ngành cũng nhận định, việc thương lái ‘bán dạo’ gạo chỉ là những hiện tượng cá biệt. Lượng gạo này không nhiều nên khó gây xáo trộn thị trường.
Theo báo cáo cân đối cung cầu lúa gạo hàng hóa phục vụ công tác điều hành xuất khẩu gạo năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gửi Bộ Công Thương, ước đạt 43,14 triệu tấn, giảm 323.000 tấn so với năm 2024. Trong đó, vùng ĐBSCL dự kiến sản xuất 3,77 triệu ha lúa, năng suất bình quân 63,4 tạ/ha, sản lượng đạt gần 24 triệu tấn. Sau khi trừ tiêu thụ nội địa, giống và thức ăn chăn nuôi, lượng lúa hàng hóa dành cho xuất khẩu ước đạt 15,08 triệu tấn, tương đương 7,54 triệu tấn gạo.
Trong báo cáo, Bộ NN&PTNT đã đề xuất Bộ Công thương đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào các tháng có sản lượng thu hoạch lớn (tháng 2, 3, 4, 7, 8 và 9) để tránh tồn đọng. Đồng thời, Bộ NN-PTNT đề nghị tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nhằm xuất khẩu hết lượng gạo hàng hóa, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nông dân và doanh nghiệp.
Đồng thời, đề xuất tăng cường xúc tiến thương mại để mở rộng các thị trường xuất khẩu gạo nhằm đảm bảo xuất khẩu hết lượng gạo hàng hóa, đồng thời đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đề xuất cơ chế quản lý hệ thống thương lái thu mua lúa theo hướng chuyên nghiệp, có đăng ký kinh doanh, thương lái ký hợp đồng với nông dân sản xuất trên cơ sở hợp đồng ký với doanh nghiệp xuất khẩu về chủng loại giống, chất lượng lúa và các thương lái được hưởng các chính sách hỗ trợ như doanh nghiệp.
Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, diện tích gieo cấy lúa năm 2025 dự kiến giảm xuống 7 triệu ha, giảm 132.000 ha so với năm trước. Dù năng suất bình quân ước đạt 61,6 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với cùng kỳ năm 2024. Sản lượng ước đạt 43,143 triệu tấn, giảm 323.000 tấn so với cùng kỳ năm 2024.
Dự báo xuất khẩu gạo năm 2025 đạt 7,5 triệu tấn
Trước đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng đưa dự báo, xuất khẩu gạo năm 2025 đạt 7,5 triệu tấn. Hiện tại nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang rất lo lắng, vì số đơn hàng giảm rất mạnh, có những doanh nghiệp cho biết không có đơn hàng nào ký kết cho thời gian xuất khẩu trong tháng 2.
Theo VFA, Việt Nam sắp bước vào vụ thu hoạch đông xuân - vụ có sản lượng lớn nhất năm. Thời tiết thuận lợi nên sản lượng dự báo dồi dào, khiến nhiều nhà nhập khẩu đang tạm dừng mua hàng để chờ mua với giá thấp hơn.
Nhiều ý kiến cho rằng giá gạo điều tiết theo cung cầu, nhưng theo VFA, gạo thơm và chất lượng cao vẫn có thị trường riêng, nên giá các loại gạo này vẫn không giảm. Nhiều doanh nghiệp vẫn xuất khẩu được gạo thơm, gạo đặc sản với giá 800 - 1.200 USD/tấn. Hiện nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo đặc sản ST25 với giá hơn 1.000 USD/tấn.
Mặc dù giá gạo tẻ xuất khẩu đã xuống dưới mức 400 USD/tấn trong tháng 1/2025, nhưng giá gạo xuất khẩu bình quân của tháng vẫn trên mốc 600 USD/tấn, là nhờ sức kéo của gạo thơm và gạo đặc sản.
Trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động, đòi hỏi ngành lúa gạo Việt Nam cần sớm tính các phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp ngay từ đầu năm 2025. Theo đó, về thị trường xuất khẩu, chú trọng xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm như Philippines, Indonesia, Trung Quốc… đồng thời, cần chủ động đa dạng hóa thị trường, chủng loại gạo xuất khẩu, không chỉ tập trung vào các thị trường châu Á mà cần mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng khác, như châu Âu, Mỹ, Trung Đông, Tây Á và châu Phi. Các địa phương cần tập trung sản xuất các loại gạo chất lượng, giá bán cao được thị trường ưa chuộng như các loại gạo thơm, gạo đặc sản…
Đinh Toàn