Giá gạo 5% tấm của Việt Nam tiếp tục dẫn đầu khi xếp trên Thái Lan và Ấn Độ. Điều này thúc đẩy giá thu mua lúa tại ĐBSCL tăng mạnh trong thời gian gần đây.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những ngày đầu tháng 11, giá gạo 5% tấm của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức 425 - 430 USD/tấn.
Dù tăng 5 USD/tấn so với tuần trước nhưng giá gạo 5% tấm của Thái Lan vẫn thấp hơn hàng cùng loại của Việt Nam khoảng 20 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Ấn Độ lại giảm 9 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 375 - 384 USD/tấn.
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới.
Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ xuống thấp nhất trong hai tháng qua là do đồng rupee lao dốc, nhu cầu từ châu Phi giảm dần trong khi nguồn cung từ vụ mới tăng lên.
Tại Việt Nam, giá gạo trong nước đang tăng do nguồn cung khan hiếm, trong khi các nhà xuất khẩu tăng cường thu mua lúa từ nông dân để hoàn thành các hợp đồng đã ký.
Đồng tiền của Việt Nam năm nay đã giảm 8% so với đồng USD, khuyến khích các nhà xuất khẩu đẩy mạnh bán hàng ra nước ngoài.
Dữ liệu vận chuyển sơ bộ cho thấy khoảng 15.000 tấn gạo sẽ được bốc xếp tại cảng TP.HCM trong 10 ngày đầu tháng 11, phần lớn gạo sẽ được xuất sang Philippines, Papua New Guinea.
Tín hiệu tích cực từ xuất khẩu đã giúp giá lúa tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh trong những ngày cuối tháng 10 và đầu tháng 11 trong bối cảnh nhu cầu sôi động, nguồn cung khan hiếm.
Cụ thể, lúa Đài thơm 8 đang được thương lái thu mua tại ruộng với mức 6.700 - 6.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; lúa Om 5451 6.500 – 6.650 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; nàng hoa 9 6.800 - 7.000 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg.
Với các chủng loại còn lại, giá đi ngang. Hiện nếp khô Long An đang được thương lái thu mua ở mức 9.000 - 9.200 đồng/kg, nếp khô An Giang giá dao động 8.400 - 8.600 đồng/kg; nếp tươi Long An 8.000 - 8.100 đồng/kg; nếp tươi An Giang 7.200 - 7.300 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa Nhật 7.800 - 7.900 đồng/kg; lúa IR 504 ở mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; nàng hoa 9 6.600 - 6.800 đồng/kg; lúa IR 504 khô duy trì ở mức 6.500 đồng/kg.
Tính đến hết tháng 10, xuất khẩu gạo đạt trên 6 triệu tấn, với giá trị đạt gần 3 tỉ USD, tăng 17% về khối lượng và tăng 7,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021. Giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng ước đạt 484 USD/tấn, giảm 8,3% so với cùng kỳ năm 2021. Philippines vẫn là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của VN với gần 44% thị phần với sản lượng đạt gần 2,5 triệu tấn và 1,14 tỉ USD, tăng 35% về khối lượng và tăng 22% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.
Nhận định về bức tranh thị trường gạo cuối năm, các doanh nghiệp cho rằng xu hướng tăng sẽ kéo dài trong thời gian tới. Mức giá cao của gạo Việt Nam sẽ kéo dài đến cuối tháng 12.
Nguyên nhân là thời tiết khắc nghiệt ở nhiều quốc gia châu Á, nơi chiếm 90% sản lượng gạo toàn cầu, tình trạng biến đổi khí hậu, hạn hán gay gắt ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc, nước có nhu cầu tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, đang đặt nguồn cung gạo vào tình trạng thiếu hụt.
Bên cạnh đó, việc Ấn Độ cấm xuất khẩu gạo 100% và đánh thuế gạo trắng 20% cùng với tình trạng khan hiếm lương thực trên thế giới thì đây là cơ hội cho ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những tháng cuối năm.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết nếu không có những bất thường về thời tiết, dịch bệnh, Việt Nam đủ lượng 6,5 - 6,7 triệu tấn gạo để xuất khẩu và dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm nay đạt khoảng 3,2 - 3,3 tỉ USD.
Tỷ lệ thuận với niềm vui của bà con trồng lúa, Chủ tịch VFA Nguyễn Ngọc Nam dự báo còn 2 tháng nữa là kết thúc năm và khả năng đạt sản lượng 6,5 triệu tấn là hoàn toàn có thể vì thị trường đang tốt. Vấn đề chỉ là sản lượng Việt Nam không có nhiều để xuất khẩu. Vụ thu đông ở ĐBSCL diện tích gieo trồng khoảng 700.000 ha nên sản lượng gối đầu qua năm sau ít.
Theo ông Nam, so với thời điểm trước khi Ấn Độ có chính sách hạn chế xuất khẩu gạo thì hiện giá gạo Việt Nam bình quân tăng 30 USD/tấn. Tình hình thế giới đang có lợi cho ngành lúa gạo VN. Các doanh nghiệp cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và mở thêm các thị trường mới.
Cao Thăng (t/h)