Giá kim loại hôm nay 5/9 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng, bất chấp giá vàng thế giới giảm và vẫn chịu áp lực từ đồng USD, lợi suất trái phiếu Mỹ. Giá bạc phục hồi khi đồng USD suy yếu, trong khi thép thanh giảm nhẹ nhưng quặng sắt bật tăng nhờ hoạt động sản xuất tại các nhà máy thép Trung Quốc cải thiện.
Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng
Thị trường vàng trong nước sáng 5/9 đồng loạt tăng giá ở cả vàng miếng và vàng nhẫn. Giá vàng miếng tại SJC, Bảo Tín Mạnh Hải, DOJI, PNJ và Phú Quý cùng tăng 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với sáng qua, lên mức 145,6 triệu đồng/lượng mua vào và 148,6 triệu đồng/lượng bán ra.
Mặt bằng giá giữa các thương hiệu lớn tiếp tục tương đối đồng nhất khi toàn bộ các thương hiệu được khảo sát cùng niêm yết vàng miếng ở mức 145,6 - 148,6 triệu đồng/lượng.
Cùng chiều với vàng miếng, giá vàng nhẫn cũng đồng loạt tăng tại các thương hiệu, trong đó giá bán ra cao nhất đạt 150,5 triệu đồng/lượng. SJC niêm yết vàng nhẫn ở mức 145,1 - 148,1 triệu đồng/lượng, tăng 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
Vàng nhẫn tròn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 900.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, lên 145,5 triệu đồng/lượng. Tại DOJI, giá vàng nhẫn tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 146,5 - 150,5 triệu đồng/lượng. Đây là mức giá bán ra cao nhất trong nhóm vàng nhẫn được khảo sát.
PNJ giao dịch vàng nhẫn ở mức 145,1 - 148,5 triệu đồng/lượng, tăng 100.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 200.000 đồng/lượng ở chiều bán ra. Trong khi đó, vàng nhẫn Phú Quý tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 500.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, lên 145,6 - 148,9 triệu đồng/lượng.
Trái với diễn biến trong nước, giá vàng thế giới sáng 5/9 mở phiên ở mức 4.430 USD/ounce, giảm hơn 60 USD/ounce so với sáng qua. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 140,2 triệu đồng/lượng.
Như vậy, giá vàng thế giới đã đảo chiều giảm nhưng vẫn giữ trên ngưỡng 4.400 USD/ounce. Với giá vàng miếng trong nước bán ra ở mức 148,6 triệu đồng/lượng, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện vào khoảng 8,4 triệu đồng/lượng.
Áp lực giảm trên thị trường quốc tế xuất hiện sau khi báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ tốt hơn nhiều so với dự kiến. Theo Bộ Lao động Mỹ, nền kinh tế tạo thêm 162.000 việc làm trong tháng 8, cao hơn đáng kể so với dự báo khoảng 55.000 việc làm của giới kinh tế.
Thông tin này lập tức tác động tới thị trường vàng. Giá kim loại quý có thời điểm giảm hơn 100 USD chỉ trong khoảng 30 phút đầu tiên sau khi báo cáo việc làm được công bố.
Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ cũng tăng mạnh. Lợi suất kỳ hạn 2 năm lên khoảng 4,37 - 4,38%, mức cao nhất kể từ tháng 1/2025, trong khi lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,77 - 4,78%.
Diễn biến trên khiến kỳ vọng về chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thay đổi theo hướng thận trọng hơn. Khi thị trường đánh giá khả năng Fed duy trì hoặc điều chỉnh chính sách theo hướng cứng rắn hơn, đồng USD và lợi suất trái phiếu tăng sẽ tạo sức ép lên vàng.
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng đợt bán tháo mạnh của vàng chưa nhất thiết đồng nghĩa xu hướng tăng dài hạn đã đảo chiều. Dữ liệu việc làm tương đối tích cực có thể giúp Fed tập trung hơn vào mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhưng những rủi ro kinh tế và tài chính vẫn là yếu tố có thể hỗ trợ nhu cầu đối với kim loại quý.
Trong tuần tới, dữ liệu lạm phát của Mỹ được dự báo sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với thị trường. Nếu lạm phát cao hơn dự kiến, kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao hoặc tăng lãi suất có thể gia tăng, qua đó tạo thêm sức ép lên giá vàng.
Ở chiều ngược lại, các chuyên gia phân tích kỹ thuật cho rằng những nhịp điều chỉnh mạnh của vàng vẫn có thể tạo cơ hội cho dòng tiền mua vào. Tuy nhiên, nhà đầu tư được khuyến nghị thận trọng bởi nếu Fed thực sự tăng lãi suất, giá vàng có thể tiếp tục điều chỉnh sâu.
Giá bạc phục hồi khi USD và lợi suất trái phiếu hạ nhiệt
Trong khi vàng chịu áp lực điều chỉnh, giá bạc hôm nay phục hồi khi đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ giảm sau tín hiệu từ một quan chức Fed về khả năng giữ nguyên lãi suất trong tháng 9.
Tại Hà Nội, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết giá bạc ở mức 2,263 triệu đồng/lượng mua vào và 2,333 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại các địa điểm giao dịch khác ở Hà Nội, giá bạc hiện ở mức khoảng 1,954 - 2,021 triệu đồng/lượng. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bạc được niêm yết ở mức 1,958 - 2,025 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá bạc giao ngay lên 66,7 USD/ounce, tăng 0,89 USD/ounce. Quy đổi theo dữ liệu được cung cấp, giá bạc thế giới tương đương khoảng 1,706 triệu đồng/ounce ở chiều mua vào và 1,711 triệu đồng/ounce ở chiều bán ra.
Động lực chính hỗ trợ giá bạc đến từ diễn biến của đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ. Thống đốc Fed Christopher Waller phát tín hiệu cho thấy ông có xu hướng ủng hộ việc giữ nguyên lãi suất trong cuộc họp tháng 9.
Thông tin này gây áp lực lên đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, qua đó tạo điều kiện cho kim loại quý phục hồi. Khi đồng USD suy yếu, các tài sản được định giá bằng đồng bạc xanh trở nên hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư sử dụng các đồng tiền khác.
Trong khi đó, lợi suất trái phiếu giảm giúp hạ chi phí cơ hội của việc nắm giữ các tài sản không sinh lãi như bạc. Đây là yếu tố giúp kim loại quý lấy lại một phần giá trị sau nhịp điều chỉnh mạnh trước đó.
Diễn biến hiện tại cho thấy thị trường bạc vẫn phụ thuộc lớn vào kỳ vọng chính sách tiền tệ của Mỹ. Nếu đồng USD tiếp tục suy yếu và lợi suất trái phiếu hạ nhiệt, bạc có thể duy trì lực phục hồi. Ngược lại, một sự gia tăng trở lại của lạm phát và lợi suất có thể nhanh chóng tạo áp lực lên kim loại này.
Giá thép thanh giảm, quặng sắt bật tăng
Ở nhóm kim loại công nghiệp, thị trường thép và quặng sắt tiếp tục diễn biến trái chiều. Giá thép thanh giảm nhẹ trong khi quặng sắt bật tăng khi sức ép nguồn cung than luyện cốc hạ nhiệt và hoạt động của các lò cao tại Trung Quốc phục hồi.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 4/9, giá thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 26 nhân dân tệ, tương đương 0,84%, xuống 3.084 nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10 tăng 4,5 nhân dân tệ, tương đương 0,61%, lên 737 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10 tăng 1,96 USD, tương đương 2,01%, lên 99,25 USD/tấn.
Hợp đồng quặng sắt giao tháng 1 được giao dịch nhiều nhất trên DCE đóng cửa phiên ban ngày tăng 1,32%, lên 726,5 nhân dân tệ/tấn. Trên SGX, hợp đồng quặng sắt chuẩn giao tháng 10 tăng 2,17%, lên 99,4 USD/tấn.
Giá quặng sắt được hỗ trợ khi những hạn chế đối với nguồn cung than luyện cốc có dấu hiệu dịu bớt, trong khi hoạt động của các lò cao tại Trung Quốc tiếp tục phục hồi. Cước vận tải biển tăng cao và xuất khẩu thép của Trung Quốc tăng cũng tạo thêm lực đỡ cho giá nguyên liệu.
Theo ông Atilla Widnell, Giám đốc điều hành Navigate Commodities, đợt điều chỉnh gần đây của giá than luyện cốc kỳ hạn trên sàn Đại Liên cho thấy những hạn chế về nguồn cung nội địa, vốn xuất phát từ việc tăng cường giám sát và kiểm tra an toàn mỏ, có thể đang hạ nhiệt.
Dữ liệu giám sát nhiệt vệ tinh đối với 288 lò cao và 365 lò luyện cốc tại Trung Quốc cũng cho thấy cả hai nhóm liên tục nâng hiệu suất sử dụng công suất kể từ ngày 25/8. Diễn biến này cho thấy hoạt động sản xuất đang dần phục hồi, qua đó hỗ trợ nhu cầu đối với quặng sắt.
Bên cạnh đó, số liệu của Mysteel cho thấy tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc tăng 7,8% so với tuần trước, lên 2,55 triệu tấn trong tuần kết thúc ngày 31/8. Đây là tuần tăng thứ ba liên tiếp và là mức cao nhất trong gần 8 tuần. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu thép tăng 23,9%.
Hoạt động xuất khẩu mạnh hơn đang tạo thêm lực đỡ cho thị trường thép và quặng sắt trong bối cảnh nhu cầu nội địa vẫn cần thêm thời gian để phục hồi rõ nét.
Ở chiều ngược lại, giá than luyện cốc trên DCE giảm 3,17% và than cốc giảm 3,75%. Trên SHFE, thép thanh giảm 0,51%, thép cuộn cán nóng giảm 0,5%, thép dây giảm 0,35%, trong khi thép không gỉ tăng 0,55%.
Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục ổn định. Hòa Phát báo giá thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý Miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg và CB300 là 13.940 đồng/kg.
Pomina và VJS Miền Bắc cùng báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi thép Kyoei và VAS Miền Trung cùng chào giá 15.050 đồng/kg.
PV