07:40 15/04/2025

Giá lúa gạo hôm nay 15/4: Trong nước ổn định, xuất khẩu giảm nhẹ

Giá lúa gạo hôm nay (15/4) tại thị trường trong nước ít biến động so với cuối tuần trước, trong khi giá xuất khẩu giảm nhẹ 2 USD/tấn. Mặc dù sản lượng gạo nội địa dự báo tăng, nhưng Philippines vẫn sẽ phải nhập khẩu khoảng 3,5 triệu tấn gạo trong năm nay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Giá lúa gạo hôm nay

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu IR 504 hôm nay dao động ở mức 7.850 - 8.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 dao động ở mức 7.700 - 7.850; gạo nguyên liệu 5451 dao động ở mức 9.600 - 9.750/kg; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở 8.800 - 9.000 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo các loại đi ngang so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 15.500 - 16.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 18.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Giá lúa gạo hôm nay 154 Trong nước ổn định xuất khẩu giảm nhẹ

Với mặt hàng lúa, giá lúa OM 18 (tươi) hôm nay dao động ở mốc 6.800 - 6.900 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.900 - 7.000/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.200 - 6.400/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 380 (tươi) ở mốc 6.000 đồng/kg; giá lúa Nàng Hoa 9 dao động ở mức 6.550 - 6.750 đồng/kg.

Tại nhiều địa phương hôm nay, lúa khô các loại giao dịch chậm lại, nông dân chào bán đều nhưng thương lại mua ít; giao dịch mua bán lúa tươi vắng, giá có xu hướng giảm nhẹ. Tại An Giang và Cần Thơ, giao dịch mua bán lúa tươi các loại vẫn chậm, giá chững. Tại Long An, thương lái hỏi mua ít, giao dịch mua bán vắng.

Tại Kiên Giang, lượng còn lai rai, nguồn lúa Hòn Đất giảm nhiều, giá có xu hướng giảm. Tại Bạc Liêu, giá lúa tươi ST nông dân neo cao, thương lái hỏi mua ít, nhiều diện tích lúa thơm đã được cọc.

Giá gạo xuất khẩu

Cập nhật dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam trong đầu tuần này đứng ở mức 397 USD/tấn, giảm nhẹ từ mức 399 USD/tấn của tuần trước nhưng vẫn cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu.

Tương tự, giá gạo 5% tấm của Pakistan giảm 4 USD/tấn về mốc 387 USD/tấn.

Ngược lại, giá gạo 5% tấm của Thái Lan và Ấn Độ đạt 395 USD/tấn và 376 USD/tấn, lần lượt tăng 2 USD/tấn và 1 USD/tấn.

Theo Philstar, mặc dù sản lượng gạo nội địa được dự báo tăng, nhưng Philippines vẫn sẽ phải nhập khẩu  khoảng 3,5 triệu tấn gạo trong năm nay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Dữ liệu từ Cơ quan Kinh tế và Phát triển Quốc gia Philippines (NEDA) cho thấy sản lượng gạo nội địa của Philippines năm 2025 dự kiến tăng 3%, đạt khoảng 12,89 triệu tấn, so với mức 12,48 triệu tấn năm ngoái. Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn 17% so với tổng nhu cầu tiêu thụ trong nước ước tính khoảng 15,54 triệu tấn.

Để bù đắp sự thiếu hụt và đảm bảo có lượng dự trữ gạo đầu kỳ cho năm sau, Philippines dự kiến sẽ phải nhập khẩu khoảng 3,45 triệu tấn gạo trong năm nay. Dù vậy, con số này thấp đáng kể so với mức nhập khẩu kỷ lục 4,8 triệu tấn của năm 2024.

Theo ước tính của NEDA, sản lượng gạo trong nước từ quý I đến quý III sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, khiến việc nhập khẩu trở nên cần thiết. Chỉ đến quý IV, khi sản lượng được dự kiến đạt gần 4,8 triệu tấn, mới đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ khoảng 4,08 triệu tấn.

Cụ thể, sản lượng gạo trong nước dự kiến đạt 3,01 triệu tấn trong quý I, 2,7 triệu tấn trong quý II và 2,39 triệu tấn trong quý III. Trong khi đó, mức thiếu hụt so với nhu cầu được ước tính lần lượt là 800.000 tấn, 1,1 triệu tấn và 1,42 triệu tấn trong ba quý đầu năm.

Về nhập khẩu theo quý, Philippines dự kiến sẽ nhập khẩu khoảng 923.000 tấn trong quý I, 847.000 tấn trong quý II, 859.000 tấn trong quý III và 818.000 tấn trong quý IV.

Lượng gạo tồn kho vào cuối năm 2025 được kỳ vọng đạt 4,52 triệu tấn – đủ dùng trong khoảng 118 ngày, kéo dài đến tháng 4/2026, đúng vào mùa thu hoạch khô kế tiếp. Dự trữ này cao hơn hơn 20% so với lượng 3,73 triệu tấn vào cuối năm 2024.

Xu hướng nhập khẩu gạo của Philippines đang giảm trong năm nay, do kết hợp nhiều yếu tố như lượng tồn kho cao và sản lượng nội địa được cải thiện.

Bộ Nông nghiệp nước này cũng đặt mục tiêu nâng sản lúa trong nước lên mức kỷ lục mới 20,46 triệu tấn, phá vỡ kỷ lục trước đó là 20,06 triệu tấn vào năm 2023.

Ngoài ra, việc áp dụng mức giá bán lẻ tối đa (SRP) đối với gạo cao cấp nhập khẩu cũng góp phần làm giảm nhu cầu nhập khẩu, theo nhận định từ các doanh nghiệp trong ngành và các nhà quan sát quốc tế.

Dữ liệu mới nhất từ Cục Công nghiệp Thực vật cho thấy, nhập khẩu gạo của Philippines trong quý I năm nay chỉ đạt 804.347 tấn, giảm 32% từ mức 1,19 triệu tấn của cùng kỳ năm trước.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Arnel de Mesa, hiện tại, lượng gạo nhập khẩu trung bình mỗi tháng chỉ đạt khoảng 270.000 tấn, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 400.000 tấn/tháng của năm ngoái.

Ông dự báo nếu xu hướng này tiếp diễn, tổng lượng gạo nhập khẩu cả năm 2025 có thể chỉ dao động trong khoảng 3,6 đến 4 triệu tấn.

Hoàng Hậu (t/h)