Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước nhìn chung vẫn ổn định. Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I đạt 2,3 triệu tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, tăng 6,5% về lượng nhưng trị giá thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm trước do giá giảm hơn 20%.
Giá lúa gạo hôm nay
Tại các địa phương hôm nay, nhu cầu gạo OM 5451 và thơm khá hơn, giao dịch đều, giá bình ổn. Tại An Giang, lượng khá, kho mua vào chậm, giá vững. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng lai rai, giá ít biến động.
Kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng khá hơn, kho mua chậm, giá ít biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), lượng có lai rai, kho chợ giao dịch chậm, giá ổn định.
Với mặt hàng gạo, tại các khu vực khác của Đồng bằng sông Cửu Long giá gạo tiếp tục ổn định. Theo đó, gạo nguyên liệu CL 555 giao dịch ở mức 8.150 - 8.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 trong khoảng 10.150 – 10.300 đồng/kg; giá gạo Jasmine hiện ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 giữ vững ở mức 7.700 – 7.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 9.600 – 9.750 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 7.800 - 8.000 đồng/k; gạo nguyên liệu OM 18 dao động ở mức 9.300 - 9.500 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 7.600 - 7.800 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 9 vẫn giữ ổn định ở mức 6.550 - 6.750 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tại các chợ An Giang không biến động. Cụ thể, giá các loại gạo thơm trong khoảng 18.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường bán lẻ vẫn được niêm yết từ 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Thị trường nếp hôm nay duy trì đi ngang. Hiện, giá nếp IR 4625 (tươi) giữ vững ở mức 7.700 – 7.900 đồng/kg; giá nếp IR 4625 ở mức 7.900 - 8.000 đồng/kg; nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm không có điều chỉnh mới, dao động từ 6.300 - 7.300 đồng/kg. Trong đó, giá cám bất ngờ tăng vọt 450 đồng/kg, lên mức 6.300 - 6.400 đồng/kg; tấm 3-4 ở mức 6.650 - 6.800 đồng/kg; giá tấm thơm dao động từ 7.100 - 7.300 đồng/kg; trấu giao dịch quanh mức 800 - 900 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn còn ít, giao dịch mua bán lúa tươi chậm. Tại Trà Vinh, lúa đã vãn đồng, đa số thương lái đã cọc chờ cắt. Trong khi đó, nguồn lúa còn ở An Giang và Cần lai rai, giao dịch mua bán tiếp tục chậm, giá biến động nhẹ.
Tại Kiên Giang, lượng lúa Hòn Đất giảm dần, giá vững. Còn tại Bạc Liêu, giá lúa tươi ST neo cao, nhiều diện tích lúa thơm đã được cọc, nhu cầu hỏi mua vắng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì đà ổn định. Cụ thể, giá lúa OM 18 (tươi) hiện ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa thơm trong khoảng 6.550 - 7.000 đồng/kg; lúa thường ở mức 5.800 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 5451 hiện ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 giữ vững ở mức 6.800 -7.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 từ 6.550 - 6.750 đồng/kg; IR 50404 và OM 380 (tươi) trong khoảng 5.800 - 6.000 đồng/kg…
Giá gạo xuất khẩu
Cập nhật dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam hôm nay đứng ở mức 396 USD/tấn.
Tương tự, giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Thái Lan và Ấn Độ cũng giảm 2 USD/tấn và 1 USD/tấn, lần lượt đạt 393 USD/tấn và 375 USD/tấn. Riêng gạo 5% tấm của Pakistan giữ ổn định ở mức 387 USD/tấn.
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I đạt 2,3 triệu tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, tăng 6,5% về lượng nhưng giảm 15% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá gạo ở thời điểm đầu năm ở mức thấp, ảnh hưởng đến tổng giá trị xuất khẩu dù sản lượng không giảm.
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong quý đầu năm đã giảm tới 20,2% (132 USD/tấn) so với cùng kỳ, xuống còn 522 USD/tấn.
Giá gạo bắt đầu giảm mạnh sau khi Ấn Độ xoá bỏ các quy định về việc cấm xuất khẩu, trong khi nhu cầu của các đối tác chính suy yếu, đây là những yếu tố chính khiến “dòng chảy” gạo Việt Nam sang các thị trường có sự thay đổi lớn.
Cụ thể, Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam trong quý I, chiếm 42,7% khối lượng và 40,6% tổng trị giá xuất khẩu, đạt 985.941 tấn, trị giá 488,8 triệu USD. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái xuất khẩu gạo sang thị trường này đã giảm 2,5% về lượng và 24,7% về trị giá.
Xuất khẩu gạo sang Indonesia – thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam trong năm ngoái, giảm mạnh 96,8% về lượng và 98,7% trong quý đầu năm, xuống còn 14.373 tấn và trị giá 6,3 triệu USD. Với kết quả này, Indonesia tụt xuống vị trí số 10 các thị trường nhập khẩu nhiều gạo Việt Nam nhất.
Ngoài ra, lượng gạo xuất khẩu sang Malaysia giảm 2,8%; Singapore giảm 24%, Mozambique giảm 14,2%...
Thay vào đó, lượng gạo xuất khẩu sang các thị trường khác lại tăng rất mạnh như: Bờ Biển Ngà đạt 293.296 tấn, tăng 218,1%; Trung Quốc đạt 232.136 tấn, tăng 184,3%; Ghana đạt 175.052 tấn, tăng 152.4%;... Đặc biệt, Bangladesh tăng đến 65.508%, đạt 84.634 tấn; Senegal đạt 58.117 tấn, tăng 9.299%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 10.069, tăng 6.797%.
Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Mỹ cũng tăng 30,3% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 7.992 tấn. Mặc dù Mỹ không phải là thị trường xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam nhưng đây là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với một số loại gạo thơm, đặc biệt là ST25. Vì vậy, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định tạm hoãn áp thuế 90 ngày với hơn 75 nước bao gồm Việt Nam là tín hiệu tích cực để các doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị phần tại thị trường này.
Hoàng Hậu (t/h)