Ngày 21/12/2025, thị trường lúa gạo trong nước tiếp tục duy trì trạng thái giao dịch chậm, nguồn cung ra thị trường hạn chế trong khi sức mua chưa có nhiều cải thiện. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang ở vùng cao, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu tại châu Á có dấu hiệu gia tăng, tạo lực đỡ cho mặt bằng giá khu vực.
Giá lúa gạo trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và hệ thống Lúa gạo Việt, thị trường lúa gạo nội địa hôm nay ít biến động so với phiên trước. Hoạt động mua bán tại nhiều địa phương diễn ra thưa thớt, lượng hàng về nhỏ giọt do đang trong giai đoạn giáp vụ, trong khi không ít kho, vựa tạm thời hạn chế thu mua.
Tại khu vực Sa Đéc và Lấp Vò (Đồng Tháp), nguồn gạo về ít, nhu cầu từ các kho mua yếu khiến một số chủng loại gạo nguyên liệu giảm nhẹ từ 100–200 đồng/kg so với hôm qua. Ở Cái Bè (Tiền Giang), gạo về lai rai, gạo đẹp khan hiếm, giá có xu hướng đi xuống. Dù vậy, mặt bằng giá chung tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn được giữ khá ổn định.
Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 50404 dao động trong khoảng 7.550–7.650 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 8.800–9.000 đồng/kg; OM 5451 giữ trong vùng 8.150–8.300 đồng/kg; Sóc Thơm 7.500–7.600 đồng/kg; CL 555 khoảng 7.340–7.450 đồng/kg; OM 380 7.200–7.300 đồng/kg; OM 18 dao động 8.500–8.600 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm IR 50404 ổn định quanh mức 9.500–9.700 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo không ghi nhận biến động mới. Gạo Nàng Nhen tiếp tục giữ mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000–22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 14.000–15.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng và gạo Sóc thường phổ biến trong khoảng 16.000–17.000 đồng/kg.
Ở mảng lúa, giá lúa tươi hôm nay nhìn chung đi ngang, phản ánh tâm lý chờ đợi của thương lái. Lúa OM 18 (tươi) dao động 6.400–6.600 đồng/kg, một số nơi ghi nhận tăng nhẹ 100 đồng/kg. Lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.300–5.400 đồng/kg; OM 5451 (tươi) 5.500–5.600 đồng/kg; OM 34 (tươi) 5.200–5.400 đồng/kg; OM 4218 dao động 6.000–6.200 đồng/kg; Đài Thơm 8 (tươi) giữ mức 6.400–6.600 đồng/kg. Tại nhiều địa phương như Bạc Liêu, Long An và An Giang, giao dịch lúa mới diễn ra cầm chừng, phần lớn lúa cuối vụ đã được đặt cọc từ trước.
Giá gạo xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hôm nay tiếp tục đi ngang, duy trì ở vùng cao. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm hiện được chào bán trong khoảng 435–460 USD/tấn; gạo Jasmine dao động 453–457 USD/tấn; gạo 100% tấm giữ mức 319–323 USD/tấn.
Diễn biến tại thị trường thế giới cho thấy xu hướng tích cực hơn so với nội địa. Giá gạo châu Á đang dần nóng lên khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng. Đáng chú ý, giá gạo Thái Lan đã tăng lên mức cao nhất trong hơn bảy tháng, sau khi nước này đạt thỏa thuận xuất khẩu 500.000 tấn gạo sang Trung Quốc, đưa giá gạo 5% tấm lên khoảng 415 USD/tấn. Đơn hàng lớn từ Trung Quốc nhanh chóng tạo hiệu ứng lan tỏa, củng cố tâm lý thị trường và nâng đỡ giá gạo khu vực.
Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu nhích lên nhờ nhu cầu cải thiện từ các thị trường châu Á và châu Phi. Đồng rupee suy yếu xuống mức thấp kỷ lục so với USD giúp các nhà xuất khẩu linh hoạt hơn trong việc chào giá, qua đó thúc đẩy giao dịch ở các phân khúc giá thấp và trung bình.
Trong bối cảnh đó, gạo Việt Nam tiếp tục hưởng lợi từ nhu cầu gia tăng tại các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh và châu Phi. Gạo 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 370–375 USD/tấn, cao nhất trong hơn một tháng, đồng thời vẫn giữ lợi thế cạnh tranh so với gạo Thái Lan.
Trung Anh (t/h)