Giá lúa gạo hôm nay 25/7 tại thị trường nội địa tiếp tục điều chỉnh tăng 100 đồng/kg với lúa, giá gạo tiếp tục duy trì đi ngang. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo 100% tấm ở mức 448 USD. Hiện, các nước Philippines, Indonesia, Malaysia và Trung Quốc vẫn là những thị trường tiêu thụ chính của gạo Việt Nam.
Trên thị trường lúa, giá hôm nay điều chỉnh tăng nhẹ với một số mặt hàng so với ngày hôm qua, IR 50404 giá dao động quanh mốc 6.900 - 7.000 đồng/kg; Lúa Đài thơm 8 ở giá 7.100 - 7.300 đồng/kg; lúa OM 5451 giá ở mức 6.900 - 7.200 đồng/kg; lúa OM 18 có giá 7.000 - 7.200 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; OM 380 dao động từ 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa Nhật ở mốc ở mốc 7.800 - 8.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 giá 6.600 - 6.800 đồng/kg, và lúa Nàng Nhen (khô) ở mức 20.000 đồng/kg.
Cũng theo đó, thị trường nếp ghi nhận không có sự điều chỉnh so với ngày hôm qua. Nếp đùm 3 tháng 7.100 - 7.300 đồng/kg. Ngoài ra, nếp Long An (khô) 9.000 - 9.200 đồng/kg, ổn định so với ngày hôm qua. Mặt khác, nếp CK 2003 ở mức 7.100 - 7.300 đồng/kg, nếp IR 4625 (tươi) ở mức 7.300 - 7.400 đồng/kg và nếp Long An 7.400 - 7.600 đồng/kg .
Với mặt hàng gạo, giá gạo ổn định so với ngày hôm qua. Cụ thể, gạo nguyên liệu IR 504 hè thu ở mức 10.700 - 10.800 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 duy trì ở mức 12.600 - 12.700 đồng/kg.
Thị trường gạo tại các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung giao dịch chậm, gạo xâu nhiều, nguồn về ít.
Cụ thể, tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang) nguồn về ít, giao dịch chậm, lượng về ít. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), chất lượng kém, lượng về ít, giá bình ổn. Tại Sa Đéc ( Đồng Tháp) chất lượng gạo thấp, kho mua lựa gạo, cho giá vững.
Tại các chợ lẻ, giá gạo ghi nhận không có sự điều chỉnh với các mặt hàng gạo lẻ. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 30.000 đồng/kg; gạo Jasmine 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa 20.000 đồng/kg; gạo tẻ thường dao động quanh mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; thơm thái hạt dài 20.000 - 21.000 đồng/kg; gạo Hương lài 20.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 17.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 18.500 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận có điều chỉnh so với ngày hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo 100% tấm ở mức 448 USD; gạo tiêu chuẩn 5% tấm giữ vững ở mức 559USD/tấn; gạo 25% tấm ở mức 537 USD/tấn.
Cơ hội cho xuất khẩu gạo khởi sắc
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) ngày 24/7/2024, giá gạo xuất khẩu lọai 100% tấm ở mức 448 USD/tấn, giảm 12 USD/tấn; gạo tiêu chuẩn 5% tấm giữ vững ở mức 559 USD/tấn, giảm 1 USD; gạo 25% tấm ở mức 537 USD/tấn. Giá gạo xuất khẩu dù thấp hơn mức giá hồi đầu năm, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái vẫn tăng khoảng 30 – 35%.
Hiện, các nước Philippines, Indonesia, Malaysia và Trung Quốc vẫn là những thị trường tiêu thụ chính của gạo Việt Nam. Nước ta đang tích cực mở rộng sang các thị trường mới là Trung Đông, châu Phi, Nam Mỹ, Hàn Quốc hay Nhật Bản.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn lúa gạo, thu về hơn 2 tỷ USD. Số liệu này tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2023, thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định của ngành xuất khẩu lúa gạo. Thành tựu này có được nhờ vào nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp xuất khẩu, chính sách hỗ trợ của nhà nước và sự cải tiến trong công nghệ sản xuất và chế biến.
Theo Tổng cục Hải quan, nửa đầu tháng 7/2024, Việt Nam xuất khẩu 290.035 tấn gạo với giá trị 177 triệu USD, tăng lần lượt 15% về lượng và 30% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu gạo bình quân cũng tăng 12% so với cùng kỳ, đạt 612,3 USD/tấn.
Theo đánh giá, cơ hội cho xuất khẩu gạo khởi sắc trong nửa cuối năm rất lớn. Theo ông Phùng Văn Thành, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines, nhập khẩu gạo của Philippines tăng mạnh trong nửa đầu năm nay. Trong 6 tháng đầu năm 2024, tổng lượng gạo nhập khẩu của Philippines là 2,32 triệu tấn, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2023.
Trong 2,32 triệu tấn gạo nhập khẩu, có tới 1,72 triệu tấn gạo từ Việt Nam. Như vậy, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung gạo nhập khẩu lớn nhất cho Philippines và chiếm 74% tổng lượng gạo nhập khẩu của nước này. Tỷ trọng của gạo Việt Nam tuy có giảm so với năm 2023, nhưng vẫn ở mức áp đảo so với các nguồn cung khác. Đứng ngay sau Việt Nam là Thái Lan với 352.331 tấn, chiếm 15%.
Hoàng Hậu (t/h)