Giá nông sản hôm nay 2/8 ghi nhận diễn biến khá tích cực ở nhiều mặt hàng chủ lực. Hồ tiêu tiếp tục giữ vững vùng giá cao trong nước, cà phê thế giới đồng loạt tăng nhờ lo ngại nguồn cung, trong khi thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì ổn định, chỉ một số mặt hàng bán lẻ có điều chỉnh tăng.
Giá hồ tiêu giữ ổn định, tiêu trắng xuất khẩu Việt Nam tăng giá
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 2/8 tiếp tục đi ngang sau nhiều phiên liên tiếp không biến động. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động trong khoảng 139.000 - 142.000 đồng/kg, phản ánh tâm lý thận trọng của cả nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu khi thị trường chưa xuất hiện thêm động lực mới.
Khảo sát cho thấy, Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước với 142.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau ở mức 141.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh (khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ) cùng duy trì mức 139.000 đồng/kg.
Sau nhịp tăng vào cuối tháng 7, thị trường hồ tiêu trong nước đang bước vào giai đoạn tích lũy khi lượng hàng bán ra từ nông dân không còn nhiều, còn doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu mua theo nhu cầu giao hàng thay vì đẩy mạnh gom hàng.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu diễn biến trái chiều. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia giảm 63 USD/tấn xuống còn 6.760 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam vẫn ổn định với loại 500 g/l ở mức 5.970 USD/tấn và loại 550 g/l ở mức 6.050 USD/tấn.
Brazil tiếp tục là quốc gia có giá tiêu đen thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu lớn với 5.700 USD/tấn đối với tiêu đen ASTA 570, còn Malaysia duy trì mức cao nhất là 9.300 USD/tấn.
Đáng chú ý, ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm xuống còn 9.317 USD/tấn, trong khi giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 100 USD/tấn, lên 8.350 USD/tấn. Malaysia tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với mức 12.200 USD/tấn.
Việc giá tiêu trắng Việt Nam tăng trong bối cảnh nhiều thị trường đi ngang hoặc giảm cho thấy nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến sâu vẫn duy trì tích cực, tạo thêm động lực cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới.
Giá cà phê thế giới đồng loạt tăng, thị trường trong nước giữ vùng cao
Khép lại tuần giao dịch, thị trường cà phê thế giới ghi nhận diễn biến tích cực khi cả robusta và arabica đều tăng giá, trong khi thị trường nội địa tiếp tục giữ ổn định ở vùng 96.000 - 96.800 đồng/kg.
Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 tăng 2 USD/tấn lên 3.782 USD/tấn, còn hợp đồng tháng 11/2026 tăng 14 USD/tấn lên 3.775 USD/tấn.
Ở sàn New York, giá arabica phục hồi mạnh hơn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 9,05 US cent/pound, tương đương 2,8%, lên 332,1 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 6,95 US cent/pound lên 314,65 US cent/pound.
Theo Reuters, giá arabica đã tăng khoảng 6,7% trong tháng 7 nhờ những lo ngại về nguồn cung ngắn hạn. Tiến độ thu hoạch chậm tại Brazil cùng điều kiện thời tiết chưa thuận lợi khiến lượng cà phê giao ngay vẫn hạn chế. Bên cạnh đó, hiện tượng ra hoa sớm tại một số vùng trồng cũng làm gia tăng lo ngại về chất lượng và triển vọng vụ mùa tiếp theo.
Một yếu tố đáng chú ý khác là lượng tồn kho đạt chuẩn trên sàn ICE tiếp tục giảm mạnh. Tính đến ngày 30/7, lượng cà phê được chứng nhận lưu kho chỉ còn 266.204 bao, thấp hơn nhiều so với 315.883 bao của một tuần trước và 775.476 bao cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là mức thấp nhất kể từ đầu tháng 2/2024.
Dữ liệu từ Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ (CFTC) cũng cho thấy các quỹ đầu cơ tiếp tục gia tăng vị thế mua ròng đối với cà phê arabica, phản ánh kỳ vọng tích cực của giới đầu tư.
Trong nước, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên tiếp tục đi ngang. Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) vẫn dẫn đầu với mức 96.800 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 96.500 đồng/kg, còn Lâm Đồng giữ mức thấp nhất là 96.000 đồng/kg.
Theo các doanh nghiệp thu mua, lượng cà phê còn lại trong dân không nhiều khi phần lớn sản lượng vụ cũ đã được tiêu thụ. Nhiều nông hộ tiếp tục giữ hàng với kỳ vọng giá sẽ tăng trong thời gian tới, góp phần duy trì mặt bằng giá ở mức cao.
Giá lúa gạo ít biến động, gạo Jasmine bán lẻ tăng giá
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 2/8 nhìn chung ổn định. Giá gạo nguyên liệu và lúa tươi duy trì mặt bằng của phiên trước, trong khi gạo Jasmine bán lẻ tăng giá.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hiện dao động ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; CL 555 từ 9.800 - 9.900 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc Thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm dao động 8.550 - 8.700 đồng/kg, còn cám ở mức 7.850 - 8.000 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, gạo Jasmine tăng khoảng 2.000 đồng/kg so với giữa tuần, dao động từ 13.000 - 20.500 đồng/kg. Các mặt hàng khác cơ bản giữ ổn định, trong đó gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá thu mua không có nhiều biến động. Lúa IR 50404 dao động 5.400 - 6.500 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.000 - 7.100 đồng/kg; OM 5451 từ 5.400 - 6.900 đồng/kg; OM 18 từ 6.200 - 7.100 đồng/kg và OM 34 ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các địa phương, giao dịch lúa vẫn diễn ra chậm. Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, nông dân tiếp tục neo giá, trong khi thương lái hạn chế mua mới khiến lượng giao dịch chưa thực sự sôi động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 455 - 459 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 359 - 363 USD/tấn; còn gạo Jasmine giữ ở mức 546 - 550 USD/tấn.
Giá gạo của Thái Lan và Ấn Độ cũng không có nhiều thay đổi, cho thấy thị trường xuất khẩu vẫn duy trì trạng thái ổn định trong bối cảnh nguồn cung và nhu cầu chưa xuất hiện biến động lớn.
PV