Giá nông sản hôm nay 8/8 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục ổn định ở vùng cao 138.000 - 141.000 đồng/kg, trong khi cà phê giảm mạnh 1.500 đồng/kg. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, giá một số loại lúa tươi tăng 200 đồng/kg, còn thị trường gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ nhìn chung ít biến động.
Giá tiêu hôm nay 8/8: Duy trì vùng giá cao
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 8/8 tiếp tục trầm lắng khi giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm không thay đổi, dao động từ 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, khu vực Đắk Nông cũ tiếp tục dẫn đầu về giá với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng thứ hai ở mức 140.000 đồng/kg.
Các khu vực Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ thuộc TP. Hồ Chí Minh cùng duy trì mức 138.000 đồng/kg.
Mặt bằng giá hiện tại cho thấy nguồn cung hồ tiêu trong nước đang ở mức tương đối hạn chế sau khi vụ thu hoạch kết thúc. Trong khi đó, nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu vẫn được duy trì, giúp giá tiêu giữ được vùng cao dù giao dịch chưa thực sự sôi động.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu Indonesia nhích nhẹ. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Lampung của Indonesia tăng 7 USD/tấn, tương đương 0,1%, lên 6.820 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok cũng tăng 9 USD/tấn, lên 9.337 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Brazil ASTA giữ mức 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia duy trì quanh 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục ổn định trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá xuất khẩu của Việt Nam giữ mức 8.400 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Malaysia được chào bán khoảng 12.200 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu thế giới chưa xuất hiện yếu tố đủ mạnh để tạo ra biến động lớn. Giá tại nhiều nguồn cung chủ lực vẫn ổn định, trong khi Indonesia chỉ ghi nhận mức tăng nhẹ.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, nhu cầu nguyên liệu từ các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tiếp tục là yếu tố hỗ trợ quan trọng trong bối cảnh nguồn cung nội địa có xu hướng thu hẹp.
Giá cà phê hôm nay 8/8: Giảm 1.500 đồng/kg
Trái với hồ tiêu, thị trường cà phê trong nước sáng 8/8 chịu áp lực giảm mạnh. Giá thu mua tại Tây Nguyên đồng loạt giảm 1.500 đồng/kg, đưa mặt bằng chung về 96.800 - 97.500 đồng/kg.
Đắk Nông tiếp tục là địa phương có giá cao nhất với 97.500 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 97.300 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng có giá thấp nhất, đạt 96.800 đồng/kg.
Mức giảm này khiến giá cà phê trong nước rời xa ngưỡng 98.000 đồng/kg sau những phiên biến động mạnh gần đây. Diễn biến trong nước nhìn chung bám sát xu hướng điều chỉnh của thị trường thế giới.
Trên sàn London, robusta kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 93 USD/tấn, tương đương 2,39%, xuống 3.798 USD/tấn. Hợp đồng tháng 11/2026 giảm 97 USD/tấn, tương đương 2,5%, còn 3.787 USD/tấn.
Trên sàn New York, arabica giao tháng 9/2026 giảm 5,25 US cent/pound, tương đương 1,61%, xuống 321,65 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 5,35 US cent/pound, còn 306,1 US cent/pound.
Theo Reuters, triển vọng thời tiết khô ráo tại các vùng trồng cà phê trọng điểm của Brazil trong tuần tới đang tạo áp lực lên giá. Điều kiện thuận lợi giúp quá trình phơi khô hạt diễn ra dễ dàng hơn, đồng thời hỗ trợ tiến độ thu hoạch và làm gia tăng kỳ vọng nguồn cung.
Tuy nhiên, đà giảm của cà phê vẫn được hạn chế bởi lượng tồn kho đạt chuẩn trên sàn ICE đang ở mức thấp.
Tính đến ngày 5/8, lượng arabica được ICE chứng nhận còn 251.417 bao, giảm so với 274.168 bao một tuần trước và thấp hơn đáng kể so với 754.516 bao cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường cũng tiếp tục theo dõi nguy cơ El Niño mạnh có thể ảnh hưởng đến năng suất cà phê trong niên vụ mới. Bên cạnh đó, những trận mưa lớn tại Brazil trong tháng trước được cho là có thể tác động tới chất lượng vụ thu hoạch, dù thời tiết hiện đã thuận lợi hơn.
Giá lúa gạo hôm nay 8/8: Lúa tươi tiếp tục tăng
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo sáng 8/8 diễn biến trái chiều. Một số loại lúa tươi tiếp tục tăng giá, trong khi gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm nhẹ ở một số chủng loại. Giá gạo bán lẻ và giá xuất khẩu nhìn chung ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 tăng 200 đồng/kg, lên 6.300 - 6.400 đồng/kg. Lúa OM 5451 tươi cũng tăng 200 đồng/kg, đạt 6.700 - 6.800 đồng/kg.
Trong khi đó, lúa Đài Thơm 8 được giao dịch ở mức 6.900 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.900 - 7.000 đồng/kg. Lúa OM 34 tươi giữ mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Tại các địa phương trong vùng, hoạt động mua bán lúa mới có dấu hiệu cải thiện nhưng vẫn diễn ra thận trọng. Tại An Giang, lúa thơm đang bước vào giai đoạn thu hoạch rộ, nhu cầu giao dịch được cải thiện nhưng nông dân vẫn có xu hướng giữ giá cao.
Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, người dân tiếp tục neo giá bán, trong khi giao dịch mới chưa thực sự sôi động.
Ở thị trường gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá nhìn chung vẫn duy trì ở vùng cao. Gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống 9.700 - 9.800 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu CL 555 dao động 9.750 - 9.850 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 đạt 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch quanh 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, tấm thơm dao động 8.600 - 8.700 đồng/kg, trong khi cám ở mức 7.700 - 7.850 đồng/kg.
Tại các chợ dân sinh, giá gạo gần như không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất trong nhóm khảo sát, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine được bán ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 khoảng 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng quanh 16.000 đồng/kg.
Gạo thường dao động 13.500 - 14.500 đồng/kg; gạo Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg. Gạo Nhật có giá 22.000 đồng/kg, còn gạo OM 18 được bán ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang so với phiên trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm được chào bán ở mức 367 - 371 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 510 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine đạt 541 - 545 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 450 - 454 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 377 - 381 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 361 - 365 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 292 - 296 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường nông sản ngày 8/8 tiếp tục phân hóa rõ. Hồ tiêu duy trì vùng giá cao nhưng thiếu động lực tăng mới; cà phê chịu áp lực điều chỉnh từ thị trường quốc tế; trong khi lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục nhích lên nhờ tâm lý giữ giá của nông dân. Diễn biến cung cầu và nhu cầu xuất khẩu sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng chi phối giá nông sản trong thời gian tới.
PV