Ngày 12/11, thị trường thép trong nước tiếp tục duy trì mức giá ổn định, trong khi các hợp đồng quặng sắt và thép kỳ hạn trên thị trường quốc tế biến động trái chiều, khi các nhà đầu tư cân nhắc triển vọng kích thích kinh tế và nhu cầu suy yếu tại Trung Quốc.
Giá thép trong nước
Tại miền Bắc, theo SteelOnline.vn, thép Hòa Phát ghi nhận giá thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 13.090 đồng/kg. Thép Việt Ý, thép cuộn CB240 13.640 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 12.880 đồng/kg. Thép Việt Đức, thép cuộn CB240 13.350 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 12.850 đồng/kg. Thép Việt Sing, thép cuộn CB240 13.330 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 12.930 đồng/kg. Thép VAS, thép cuộn CB240 13.330 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 12.730 đồng/kg.
Tại miền Trung, Hòa Phát giữ thép cuộn CB240 13.500 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 10.090 đồng/kg. Thép Việt Đức ghi nhận CB240 13.650 đồng/kg, D10 CB300 13.050 đồng/kg. Thép VAS, CB240 13.430 đồng/kg, D10 CB300 12.830 đồng/kg.
Tại miền Nam, Hòa Phát ổn định ở mức CB240 13.500 đồng/kg, D10 CB300 13.090 đồng/kg. Thép VAS, CB240 13.130 đồng/kg, D10 CB300 12.730 đồng/kg.
Giá than luyện kim, than cốc và các nguyên liệu sản xuất thép hầu như không biến động, góp phần giữ ổn định thị trường trong nước.
Giá thép trên sàn giao dịch quốc tế
Trên sàn Tương lai Thượng Hải (SHFE), thép cây giao tháng 7/2026 tăng 4 Nhân dân tệ, lên mức 3.128 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2026 trên sàn DCE tăng 0,46% lên 765 Nhân dân tệ/tấn (107,40 USD/tấn), trong khi quặng sắt chuẩn tháng 12 tại Singapore giảm 0,12% còn 102,05 USD/tấn.
Theo ông Steven Yu – nhà phân tích tại Mysteel, sự sụt giảm sản lượng thép thô từ đầu năm đã giảm bớt áp lực cắt giảm trong phần còn lại của năm, cùng với kỳ vọng các biện pháp kích thích kinh tế sắp được công bố, đang hỗ trợ tâm lý thị trường. Tuy nhiên, các nhà đầu tư bi quan vẫn lo ngại nhu cầu thép thấp, chi phí nguyên liệu cao và sản lượng cắt giảm tại một số nhà máy sẽ hạn chế đà phục hồi giá.
Trên thị trường châu Á, thép thanh tăng 0,13%, thép cuộn cán nóng tăng 0,52%, trong khi thép dây giảm 0,03% và thép không gỉ giảm 0,4%. Nhu cầu yếu vào quý IV cùng với các biện pháp bảo hộ thương mại, đặc biệt ở Đông Nam Á, dự báo tiếp tục gây áp lực lên giá thép cuộn cán nóng.
Xuất khẩu thép của Trung Quốc trong 10 tháng đầu năm 2025 tăng 6,6% so với cùng kỳ, đạt 97,74 triệu tấn. Tuy nhiên, sự sụt giảm nhu cầu nội địa mùa đông và các biện pháp kiểm soát xuất khẩu dự kiến sẽ tiếp tục tác động tới thị trường thép châu Á trong những tháng cuối năm.
Nhìn chung, giá thép trong nước duy trì ổn định trong khi thị trường quốc tế tiếp tục phân hóa, chịu tác động từ yếu tố cung – cầu, chính sách kích thích và các biện pháp thương mại.
Trung Anh (t/h)