10:27 06/10/2026

Giá vật liệu từ mỏ tới công trường

Sáu địa phương chưa tự cân đối được nguồn vật liệu cho các dự án trọng điểm. Yêu cầu điều phối liên tỉnh đặt ra bài toán bảo đảm nguồn cung, đồng thời kiểm soát chi phí trên từng chặng vận chuyển để vật liệu đến công trường với mức giá hợp lý.

Giá tại mỏ chưa phải giá tới công trường

Thông tin công bố ngày 5/10 cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác định Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ và Ninh Bình chưa tự cân đối được nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các dự án trọng điểm giai đoạn 2026-2030. Việc hỗ trợ nguồn cung giữa các địa phương vì vậy trở thành yêu cầu cấp thiết.

Tại Công văn 10083/VPCP-CN ban hành ngày 2/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương được giao chủ trì, phối hợp với các bộ và địa phương rà soát số lượng, trữ lượng thực tế các mỏ, quyết định việc điều phối trước ngày 15/10. Thời hạn này đặt ra yêu cầu sớm nối nguồn cung với nhu cầu thi công.

Tuy nhiên, có nguồn vật liệu mới là bước đầu. Để cát, đá, đất đắp trở thành đầu vào của công trình, còn phải tính tới điều kiện khai thác, chất lượng, công suất cung ứng và đường vận chuyển.

Báo cáo được Chính phủ thông tin hồi tháng 8 cho thấy tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng của cả nước về tổng thể cơ bản đáp ứng nhu cầu trung và dài hạn. Khó khăn nằm ở sự phân bố không đồng đều, trong khi nhiều dự án cùng tập trung tại một số khu vực; việc chuẩn bị quỹ mỏ, cấp phép và điều phối chưa theo kịp nhu cầu.

Từ thực trạng ấy, giá vật liệu cần được nhìn trên toàn bộ hành trình tới công trường. Ngoài tiền mua tại nguồn, nhà thầu còn phải tính nhiên liệu, phương tiện, nhân công, bốc dỡ và các công đoạn xử lý cần thiết. Cự ly xa hơn hoặc thêm điểm trung chuyển có thể làm tăng chi phí dù giá tại mỏ không đổi.

Thời gian cũng ảnh hưởng tới giá thành. Xe phải chờ lấy hàng, phương tiện đường thủy chờ bốc dỡ hay công trường chưa thể tiếp nhận đều có thể làm giảm số chuyến vận chuyển. Những khoản phát sinh này cần được tính khi lựa chọn nguồn cung.

Giá vật liệu từ mỏ tới công trường
Cự ly vận chuyển và điều kiện giao nhận là những yếu tố cần tính khi so sánh giá vật liệu

Bởi vậy, so sánh báo giá phải đặt trong cùng điều kiện giao nhận. Giá bán tại mỏ không thể đối chiếu trực tiếp với giá đã giao tới công trường. Quy cách, chất lượng, thuế, bốc xếp và cách xác định khối lượng cũng cần thống nhất, nếu không phần chênh lệch rất dễ bị hiểu sai.

Một ví dụ cho sự khác biệt theo địa điểm giao hàng xuất hiện trong dữ liệu giá quý I/2026 của Sở Xây dựng Sơn La. Cát trát của cùng nhà cung cấp được ghi nhận 300.000 đồng/m³ tại nơi sản xuất, 630.000 đồng/m³ tại trung tâm nhóm phường Tô Hiệu, Chiềng Cơi, Chiềng Sinh, Chiềng An và 690.000 đồng/m³ tại trung tâm xã Vân Hồ.

Các mức giá này không đại diện cho thị trường tháng 10, cũng chưa đủ để tách riêng cước vận tải. Tuy vậy, chúng cho thấy địa điểm giao nhận có thể tạo chênh lệch đáng kể. Khi điều phối liên tỉnh, hiệu quả cần được tính bằng tổng chi phí đưa vật liệu đạt yêu cầu tới nơi sử dụng.

Minh bạch giá để thông nguồn cung

Đường vận chuyển càng dài, việc xác định từng khoản chi phí càng cần rõ ràng. Nếu chỉ ghi nhận một mức giá giao hàng cuối cùng, chủ đầu tư khó biết phần tăng đến từ giá tại nguồn, thay đổi cự ly hay khâu trung chuyển.

Khoảng cách giữa giá công bố và giao dịch thực tế đã được cơ quan quản lý lưu ý. Tháng 7/2026, Bộ Xây dựng cho biết giá công bố của một số loại cát, đá chưa phản ánh đúng diễn biến thị trường; một số địa phương còn chậm công bố chỉ số giá xây dựng. Bộ đề nghị tăng cường khảo sát, kiểm soát thị trường và xử lý tình trạng găm hàng, thao túng giá.

Ghi nhận này cho thấy việc cập nhật thông tin giá cần đi cùng kiểm tra nguồn cung. Giá tăng do thiếu hàng, tăng chi phí vận chuyển hay hạn chế cạnh tranh đòi hỏi cách xử lý khác nhau. Muốn xác định đúng nguyên nhân, cần đối chiếu báo giá với hợp đồng, hóa đơn và chứng từ giao nhận.

Giá vật liệu từ mỏ tới công trường
Điều phối vật liệu liên tỉnh cần gắn khả năng cung ứng của từng mỏ với nhu cầu và tiến độ thi công của dự án.

Với công trình quy mô lớn, một khoản chênh lệch nhỏ trên mỗi mét khối cũng có thể tạo sức ép khi nhân với khối lượng sử dụng. Nếu giá tham khảo chậm cập nhật, việc lập dự toán, thương thảo hoặc xử lý phát sinh dễ kéo dài. Mức độ ảnh hưởng còn tùy loại hợp đồng và điều kiện của từng dự án.

Vì vậy, dữ liệu phục vụ điều phối nên thể hiện đồng thời khả năng cung ứng và điều kiện mua hàng. Trữ lượng được phép khai thác còn lại, sản lượng có thể giao, chất lượng và thời điểm cung cấp là những thông tin cần thiết. Có như vậy, nguồn vật liệu mới gắn được với lịch thi công cụ thể.

Chính phủ đã yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu, tích hợp thông tin mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối. Hệ thống dự báo cung cầu theo vùng, loại vật liệu và giai đoạn phát triển cũng được đặt ra.

Để dữ liệu phát huy giá trị, mỗi phương án điều phối cần được kiểm tra về khả năng thực hiện. Mỏ có thể cung ứng nhưng tuyến đường vào bị hạn chế, bến bãi thiếu năng lực hoặc thời gian giao hàng không phù hợp thì công trường vẫn khó nhận đủ vật liệu. Những vướng mắc ấy cần được xử lý cùng lúc với phân bổ nguồn.

Minh bạch cũng cần bao gồm trách nhiệm của các bên. Đơn vị cung cấp xác nhận khối lượng và lịch giao; đơn vị vận tải làm rõ điều kiện chuyên chở; nhà thầu chuẩn bị nơi tiếp nhận. Việc theo dõi lượng giao thực tế giúp phát hiện sớm điểm nghẽn, thay vì đợi thiếu hàng mới tìm nguồn khác.

Đích đến của điều phối là vật liệu hợp pháp, đạt chất lượng, được giao đúng tiến độ với chi phí có thể kiểm chứng. Khi từng chặng từ mỏ tới công trường được làm rõ, từ đó nhà thầu có thêm cơ sở tổ chức thi công, đối với chủ đầu tư sẽ có căn cứ quản lý vốn. Việc điều phối chỉ đạt hiệu quả khi công trường nhận đủ vật liệu, đúng chất lượng và đúng tiến độ.

Quốc Toản