Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong giai đoạn 5 năm (2015-2019), ngành tôm Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong sản xuất và xuất khẩu, đạt tăng trưởng trung bình năm là 4%.
Tôm chân trắng chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Cụ thể, diện tích nuôi tôm tăng trung bình 1,4%/năm, sản lượng tăng trung bình 5,7%/năm, chủ yếu nhờ năng suất nuôi tôm chân trắng cải thiện. Đáng nói, sản lượng tôm chân trắng tăng gần 41% sau 5 năm, với mức tăng trung bình 9% mỗi năm. Trong khi đó, sản lượng tôm sú tăng trung bình 1,2% và chỉ tăng 3,1% sau 5 năm, năng suất không có sự tăng trưởng đáng kể so với tôm chân trắng.
Giai đoạn này, các thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 81 - 85% tổng giá trị NK tôm trong 5 năm qua. Từ năm 2017, Mỹ và EU hoán đổi vị trí cho nhau vì XK tôm sang Mỹ sụt giảm liên tục và giảm mạnh hơn thị trường EU. Trong giai đoạn này, XK sang Trung Quốc đột phá mạnh nhất với tăng trưởng trung bình năm là 16% và sau 5 năm tăng trên 55%. Sau Trung Quốc, Hàn Quốc cũng là thị trường đáng chú ý trong 5 năm qua, tiếp đến là EU.
Để đạt được mức tăng trưởng trên có sự đóng góp không nhỏ của các sản phẩm tôm đông lạnh. Trong khi đó, tôm chế biến chỉ chiếm tỷ trọng đáng kể ở một số thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản). Tỷ trọng tôm cbiến tại thị trường Mỹ cao nhất , tiếp đến là thị trường EU, Nhật Bản trên, Hàn Quốc, trong khi ASEAN và Trung Quốc ở mức thấp.
Nhìn chung, về thuế NK các sản phẩm tôm tại các thị trường chính, sản phẩm của Việt Nam có lợi thế hơn so với các nước XK khác như Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, nhất là tại các thị trường có hiệp định FTA với Việt Nam. Đây sẽ tiếp tục là ưu thế cho XK tôm Việt Nam trong năm 2020 và những năm tới.
Tuy nhiên, dịch corona đã và đang ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khảu tôm sang các thị trường trong năm 2020, vì vậy sẽ làm hạn chế tăng trưởng của ngành tôm trong năm nay, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của mỗi thị trường sẽ khác nhau.
Thùy Diễm