Nền kinh tế của một đất nước chỉ có thể phát triển vững mạnh nếu có khu vực kinh tế tư nhân trong nước vững mạnh. Chính vì thế, theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) một số chính sách cần phải khơi thông.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân không thua kém so với doanh nghiệp FDI
Tại "Diễn đàn Tái định vị doanh nghiệp để phát triển bền vững" vừa được tổ chức mới đây, TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách đánh giá, bối cảnh suy giảm vốn đăng ký và dự án đăng ký của năm 2022 với đầu tư nước ngoài đã phản ánh dấu hiệu tăng trưởng của nền kinh tế.
Từ giữa năm 2022, các ngành công nghiệp xây dựng, dịch vụ có xu hướng đi xuống dù lúc đầu đã có mức tăng trưởng nhanh. Chỉ riêng ngành nông nghiệp duy trì tốc độ bình bình. Trong bối cảnh đó, với ngành công nghiệp, FDI chiếm 70% giá trị xuất khẩu công nghiệp và 50% sản xuất công nghiệp. Trong thống kê, lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 51%, sau đó đến lĩnh vực, bất động sản và xây dựng.
“Như vậy, việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng là hấp lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài” – ông Việt nói.
TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách. Ảnh: DDDN
Mặc dù vốn đăng ký suy giảm, vốn thực hiện vẫn có xu hướng tương đối ổn định, nhưng đây là hệ quả của việc vốn đăng ký tăng rất cao trong những năm trước đại dịch COVID-19, đặc biệt là vào năm 2019.
Tuy nhiên, do đặc thù vốn thực hiện có độ trễ nhất định, đến năm 2022, khi các dự án đã đăng ký trước đó bước vào thực hiện, vốn thực hiện vẫn chưa có chiều hướng suy giảm. Tuy nhiên việc suy giảm được dự đoán sẽ diễn ra trong thời gian tới. TS Việt cho rằng, để duy trì môi trường kinh doanh và việc triển khai thuận lợi các dự án, nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khâu thủ tục hành chính, giải tỏa cấp phép về đất đai, các quy chuẩn để thực hiện dự án là rất quan trọng.
Trong những tháng cuối năm 2022, đặc biệt là trong 2 tháng đầu năm 2023, chủ yếu vốn FDI vào Việt Nam đến từ Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kong. Nhìn tổng thể, bối cảnh đối tác FDI theo tổng vốn chủ yếu là các nước Đông Á và Đông Nam Á với Trung Quốc chiếm phần lớn.
Như vậy, có sự tương đồng giữa tỷ trọng dòng vốn FDI trong các lĩnh vực với xuất nhập khẩu. Cũng có sự tương đồng giữa xuất khẩu và nhập khẩu với chất lượng nguồn vốn FDI chưa tốt khi đa phần tập trung vào khí cạnh khai thác lao động giá rẻ, một số nguồn tài nguyên thiên nhiên…
Nhìn lại các doanh nghiệp FDI trong tương quan so sánh với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, số liệu 2020 (thời điểm chưa có nhiều tác động từ quốc tế), doanh nghiệp tư nhân không đến nỗi tệ khi so sánh với các doanh nghiệp FDI trong khía cạnh lỗ lãi. Thậm chí, tỷ lệ doanh nghiệp FDI báo lỗ lớn hơn doanh nghiệp tư nhân.
Số lượng doanh nghiệp quy mô về vốn và lao động, doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng nhỏ về vốn, so với doanh nghiệp nhà nước là 24% và doanh nghiệp tư nhân chiếm gần 60%.
So với hai giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020, dòng vốn FDI với dòng vốn từ doanh nghiệp tư nhân tăng gấp đôi, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng gấp rưỡi, từ 6,4 triệu tỷ đồng lên 9,4 triệu tỷ đồng.
Tương tự, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm đi rất nhiều do tái cơ cấu, trong khi số doanh nghiệp tư nhân trung bình hoạt động trong 2 giai đoạn này tăng tương đối nhanh.
Số lượng hấp thụ lao động từ khối doanh nghiệp nhà nước vẫn dậm chân tại chỗ, trong khi doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI số lượng lao động tăng gấp đôi trong giai đoạn 5 năm trước đại dịch.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân không thua kém so với doanh nghiệp FDI.
Đánh giá về thu ngân sách, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI có sự tương đồng về doanh thu. Nhưng về lợi nhuận, doanh nghiệp FDI tương đối nhỉnh hơn so với khối doanh nghiệp khác trong cùng quãng thời gian.
Sự đóng góp vào ngân sách nhà nước của khu vực FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn, khi tỷ trọng thu ngân sách từ các nguồn thu trong nước và xuất nhập khẩu vẫn phần lớn các nguồn thu, từ đó góp phần tăng thu ngân sách trong 10 năm vừa qua.
Theo ông Việt, đánh giá về vai trò tích cực của khu vực FDI, khi so sánh với các doanh nghiệp khác trong bối cảnh biến động và khó khăn bên ngoài lẫn bên trong trong những năm vừa qua, đối với nhà nước, nhóm doanh nghiệp FDI chủ động hợp tác và đảm bảo yếu tố độc lập liêm chính.
Với thị trường, sẵn sàng cạnh tranh và có liên kết tốt hơn. Các doanh nghiệp FDI không có cạnh tranh xuống đáy và có sự liên kết dọc, ngang trong chuỗi cung ứng tốt.
Về xã hội, các doanh nghiệp FDI thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên chất lượng chính sản phẩm dịch vụ họ làm ra. Mặc dù vậy vẫn còn 1 số tồn tại của khu vực FDI như chuyển giao công nghệ, một số vấn đề môi trường.
Cần khơi thông chính sách
Tại phiên thảo luận của Diễn đàn, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trưởng ban Pháp chế đánh giá, nền kinh tế của một đất nước chỉ có thể phát triển vững mạnh nếu có khu vực kinh tế tư nhân trong nước vững mạnh. Chính vì thế, một số chính sách cần phải khơi thông.
Để tiếp tục thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế tư nhân trong nước, khi theo dõi các bộ ngành, các lĩnh vực trong thời gian vừa qua, nhiều cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm thủ tục mà những người đứng đầu Quốc hội và Chính phủ phải nhấn mạnh nhiều lần đã được thực hiện tốt hay chưa, ở các bộ ngành liệu đã thực hiện đều hay chưa, đã phải là ưu tiên chính sách hay chưa?
"Theo góc nhìn của tôi, thì đó là chưa vì các cơ quan này còn có những mối quan tâm khác và cho rằng đây chưa phải là trọng tâm chính sách”, ông Tuấn nói.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Ảnh: DDDN
Trước thực trạng trên, ông Đậu Anh Tuấn nêu một số giải pháp.
Một là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên mọi ngành, mọi cấp. Giải pháp này sẽ hỗ trợ được rất nhiều doanh nghiệp giảm chi phí, công bằng và hướng tới những mục tiêu phát triển bền vững hơn.
Hai là, áp dụng công nghệ thông tin một cách thực chất. Theo báo cáo, việc áp dụng công nghệ thông tin ở nhiều ngành nhiều cấp rất cao nhưng mỗi người tự thực hiện thủ tục hành chính sẽ biết được để thực hiện một cách trót lọt trên hệ thống điện tử không dễ dàng, cho nên ở khía cạnh doanh nghiệp cũng như vậy.
Ba là, cần phải tăng tính ổn định, dự đoán có chính sách pháp luật. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện nay rủi ro của pháp luật lớn hơn rủi ro từ thị trường, vì vậy chúng ta cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa.
Bốn là, cần phải phát huy vai trò của thị trường trong đó có một số ngành như thị trường xăng dầu. Hiện nay bất cập của thị trường xăng dầu là cách thức quản lý, can thiệp của Nhà nước vào thị trường. “Chúng tôi cho rằng trong thời gian tới cần đổi mới hơn, phát huy vai trò của thị trường mang tính cạnh tranh. Nhà nước sẽ khó tính toán hết các chi phí can thiệp vào mọi lĩnh vực, đây cũng là bài toán lớn trên con đường xây dựng một nền kinh tế thị trường”, ông Tuấn phân tích.
Năm là, xây dựng giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài, bảo hộ một cách hợp lý, hợp pháp nhưng thị trường trong nước cũng cần chính sách khôn ngoan. Đây sẽ là thách thức của Việt Nam trong thời gian tới, chúng ta có lợi thế không hề nhỏ về quy mô thị trường, dân số,... Nếu chúng ta ban hành những chính sách bảo hộ thị trường một cách phù hợp, khuyến khích doanh nghiệp trong nước phát triển là yếu tố rất quan trọng.
Hải Minh (t/h)